Bình Minh Giữa Trời Đêm.
Hôm nay, ngày thứ 43 trong chiến dịch xâm lược.
Tôi lặng lẽ ngồi trong góc phòng kho nhỏ trong tổng hành dinh hậu cần của quân đội Bahamut, hai tay cầm lấy bức thư vẫn còn thơm mùi mực, nó thuộc về Elie, vợ tôi.
Tôi nhìn ra phía cửa sổ, nhìn về phía những ánh đèn của bầu trời đêm, không, nó là lửa, lửa từ những lò rèn ngày đêm không ngừng nghỉ, nhìn khói đen cứ tuông ra từ những lò rèn, tôi lại nhớ đến câu nói của một chỉ huy trong quân đội “Ở đế quốc Bahamut này, lửa sẽ không bao giờ tắt.” quả thật là như vậy.
Nhưng dù là thế, tay tôi vẫn run liên hồi, là vì trời đang lạnh hay tôi đang run vì một lý do khác. “Em mong rằng chàng sẽ về với lá cờ của đế quốc, về với em và con của chúng ta.”
Tôi sắp làm cha.
Dòng chữ cuối cùng ấy đâm sâu vào tim tôi còn hơn bất kỳ lưỡi kiếm nào từng thấy ngoài tiền tuyến.
Tôi nên vui mừng.
Tôi thật sự nên vui mừng.
Nhưng tôi sợ.
Tôi khoác lên mình chiếc áo ấm quân đội, bước ra khỏi căn phòng ngột ngạt. Bầu không khí ngoài này có chút lạnh, nhưng ít ra nó vẫn tốt hơn nhiều so với kho quân đội. Con đường đá dẫn ra khu trung tâm vương đô Bahamut vẫn sáng rực ánh đèn mana và đuốc khí. Các toa xe chở vật tư chạy ầm ầm, bánh sắt nghiến lên nền đá tạo nên tiếng ồn đặc trưng mà tôi đã quen từ lâu.
"Nhanh lên! Vũ khí cho sư đoàn số 11 phải chuyển đi trong đêm nay!"
Một viên chỉ huy hét to bên kho phía bắc. Tôi thấy mấy đứa trẻ vị thành niên đang khiêng từng thùng gỗ nặng trịch. Chúng được gọi là quân hậu cần thiếu niên nhưng thực chất cũng chỉ là những đứa trẻ mồ côi được đưa vào quân đội đổi lấy cơm ăn. Tôi thấy hình ảnh mình của mười năm trước trong từng ánh mắt mệt mỏi đó.
Những đứa trẻ đó cũng từng được dạy rằng “phục vụ đế quốc là vinh quang.” Tôi không chắc rằng chúng có còn tin vào điều đó không, với tôi… tôi đã từng tin.
Và rồi một ý nghĩ bất chợt hiện lên trong đầu tôi. Nếu như tôi không trở về, con tôi liệu có trở thành….
Tôi siết chặt lấy tay mình.
Không! Tôi không cho phép điều đó diễn ra.
Tôi đã để tâm trí mình mắc kẹt ở đây quá lâu, tôi cần thoát khỏi cái cảm giác nghẹn ứ đang dần lớn lên trong lồng ngực.
Chỉ cần đi đâu đó, xa khỏi nơi này một chút, có lẽ thế.
Tôi đi qua khu luyện kim, nơi ánh sáng lò nung đỏ rực phủ lên từng mái nhà. Khói đen quyện cùng hơi nóng và mùi sắt cháy khiến tôi nghẹt thở. Người ta làm việc không ngừng nghỉ. Cả vương đô như một cơ thể khổng lồ, nơi từng công dân là một tế bào, đều đặn cống hiến cho trái tim của nó cho.... Chiến tranh.
Có người đổ sắt vào khuôn, người đang mài những thanh kiếm sắt lẹm, kẻ thì đang khắc ấn chú vào đầu mũi tên để tăng sức xuyên phá. Tất cả đều không ai nói chuyện. Không ai cười, chỉ có tiếng búa và tiếng thở gấp gáp.
Một cô gái trẻ, gương mặt lấm lem bụi bẩn, nhìn tôi khi tôi lặng lẽ bước qua. Ánh mắt cô vô hồn, nhưng khi nhìn thấy phù hiệu hậu cần trên áo tôi, cô chỉ khẽ cúi đầu. Một cái gật nhẹ đầy máy móc.
Tôi không biết nên đáp lại bằng gì. Tôi chỉ tiếp tục đi.
Liệu đây có phải là những gì mà tôi đã hằng mong muốn? Tôi cũng không biết nữa.
Có nhiều thứ đã thay đổi sau cuộc chiến này, tay tôi giờ đã nhuốm máu, rất nhiều máu. Đây là một điều tốt, nhưng sao tôi lại không vui?
Tôi dừng chân ngồi bên bờ hồ gần ngay trung tâm quảng trường. Từ đây có thể nhin thấy rõ pháo đài Vexsail, nhìn thấy rõ những gì mà chúng tôi đã xây dựng, một pháo đài kiên cố không thể sụp độ tượng trưng cho lý tưởng của đế chế này.
Điều này lại khiến tôi nhớ về Rynol, người bạn đã cùng tôi lớn lên và gia nhập quân đội. Anh ta từng nói rằng “Những kẻ trốn chạy trên chiến trường đều là những kẻ không đáng được tồn tại. Kẻ mạnh thì sẽ là kẻ thắng, và với điều đó vinh vang sẽ luôn thuộc về đế quốc.”
Vào khoảng khắc đó, khi anh ấy nằm lại nơi đất khách, anh ấy đã nghĩ gì? Liệu anh ấy có cảm thấy hối hận không?
Tôi có lẽ sẽ chẳng bao giờ biết được câu trả lời.
“Ngày mai chúng ta sẽ đi rồi.”
Một giọng nói bất chợt cất lên từ phía sau. Đó là Collin, một người đàn anh thuộc trung đoàn của tôi.
“Không ngủ được à?
Tôi lắc đầu.
“Vậy à...”
Collin lại gần ngồi bên cạnh tôi, ánh mắt hướng về phía bầu trời.
“Tôi cũng thế.”
Chúng tôi ngồi một lúc mà không nói gì. Dù gì thì mối quan hệ của chúng tôi cũng chả phải là đồng đội thân thiết. Nhưng rồi một lúc sau đó, anh ấy lại cất lời.
“Cậu nghĩ rằng cuộc chiến này sẽ kéo dài bao lâu?”
Tôi không đáp lại gì cả, chúng tôi lại chìm vào im lặng một lần nữa.
Collin lại tiếp tục lên tiếng.
“Cậu còn nhớ ngôi làng hôm trước không?”
“....”
“Tôi đã nhặt được món đồ này, từ tay của kẻ mà tôi đã giết chết.”
Vừa nói anh ta lấy ra một tờ giấy.
“Đây có lẽ là lá thư cuối mà hắn ta muốn gửi đi, có lẽ hắn cũng đã biết rằng mình sẽ không thể qua khỏi, nhưng rồi hắn lại chưa thể viết xong bức thư.”
Lúc này anh ta siết lấy chặt bàn tay.
“Hắn có lẽ là trẻ mồ côi, ra trận chỉ để nhận được 10 đồng vàng gửi về nơi hắn được chăm sóc. Ha, cái mạng của hắn cũng chỉ được 10 đồng vàng.”
Hai bàn tay của anh Collin trở nên run rẩy.
“Cũng không khác gì chúng ta nhỉ?”
Collin giật mình, cũng phải thôi. Đây không phải là lời mà chúng tôi nên nói ra, tôi cũng không biết tại sao mình lại trả lời như thế.
Được một lúc sau khi nhận được câu trả lời của tôi, Collin mỉm cười rồi lại nhìn về phía bầu trời.
“Tôi cũng là trẻ mồ côi mà.
”
Tôi im lặng, tôi không biết về điều đó, tôi cũng không có ý đó, nhưng rồi tôi lại không biện minh cho chính mình.
“Sau trận chiến này tôi sẽ giải ngũ, tôi đã mệt mỏi rồi Hanz.”
“....”
“Tôi sẽ quay trở lại cô nhi viện, nơi đó có một cánh đồng nhỏ, tôi nghĩ mình sẽ làm nông.”
“Anh sẽ bị người đời ruồng bỏ vì hành động đó đấy.”
“Haha tôi biết, nhưng tôi không quan tâm, tôi không giỏi viết thư cho ai đó đâu.”
“Anh biết không Hanz, đã từng có một lão già nói với tôi như thế này. ‘Chỉ khi con người gạt bỏ đi định kiến giữa ta và họ, đấy sẽ là lúc hoà bình được hình thành’ Nghe cứ như câu chuyện cổ tích ấy nhỉ?”
Anh ấy cứ cười như thế một lúc, sau đó liền đứng dậy.
“Đủ rồi, tôi vui vì đã trò chuyện cùng anh, Hanz. Giờ tôi sẽ quay trở về phòng, ngày mai sẽ lại là một ngày sóng gió đấy.”
Khi anh ấy quay đầu chuẩn bị rời đi, tôi đã mở miệng, ngập ngừng. Một điều gì đó trong tôi thôi thúc:
“Tôi...”
Collin dừng bước, quay đầu lại. Tôi ngập ngừng một lúc rồi thở ra một hơi mà chính mình cũng không hay biết mình đang giữ.
“Tôi sắp làm cha.”
Không biết vì lý do gì tôi lại nói lời này với Collin.
Anh ấy khựng lại. Đôi mắt anh nhìn tôi như thể anh không chắc mình vừa nghe đúng. Rồi anh ta bật cười, một tiếng cười thật lòng, vang vọng và nhẹ nhàng.
“Chúc mừng anh Hanz.”
Anh ấy quay lại, không rời đi nữa, ngồi bên cạnh tôi và nói như thể chúng tôi đã quen nhau từ rất lâu vậy.
“Vậy anh sẽ quay về? Anh định sẽ làm gì cho tương lai? Anh đã đặt tên cho đứa bé chưa? Có muốn tôi đề xuất vài cái tên không?...”
Anh ấy cứ liên tục hỏi những câu như thế mà không biết mệt... Nhưng mà, tôi lại không cảm thấy phiền, kỳ lạ thật đấy.
Tôi khẽ gật đầu, mỉm cười. Thật lòng mà nói, có lẽ sau cuộc chiến này, tôi cũng sẽ giải ngũ. Điều này ắt hẳn sẽ khó khăn với tôi trong tương lai nhưng mà chắc nó sẽ ổn thôi, dù gì thì... Tôi cũng không giỏi viết thư.
“Collin này” tôi cất giọng sau một thoáng im lặng, “tôi nghĩ mình sẽ học đóng thuyền.”
Collin gật gù, rồi bật cười “đóng thuyền có vẻ dễ dễ hơn chiến tranh đấy.”
“Tôi muốn dành thời gian cho đứa con sắp chào đời... Và sau này, khi nó đủ lớn, tôi sẽ đưa nó đi thật nhiều nơi.”
“Chà, tuyệt quá nhỉ.”
Khi tiếng nói của Collin vẫn còn vang vọng bên tai, tôi lại ngẩng đầu lên nhìn về phía bấu trời đêm đầy sao. Hoặc là....
Trời đã sáng rồi sao?
Ban đầu là một tia sáng mờ nhạt trên bầu trời, rồi nó lớn dần, lại càng sáng thêm.
Dường như tất cả mọi người đều đang đổ dồn sự chú ý của mình vào ánh sáng đó. Những cỗ xe chở hàng đột nhiên đứng im, cả quảng trường chìm vào một thứ tĩnh lặng kỳ lạ đến rợn người.
Không còn tiếng va đập của kim loại, không còn tiếng xe chở hàng cà sát với nền đất, không còn những tiếng hô hoán nhau giữa người với người. Tất cả đều chìm vào im lặng.
Lúc này đây tôi cảm thấy da mình tê dại, không khí như bị rút cạn. Tôi cảm nhận một áp lực vô hình đè nặng lên vai tôi.
Và rồi tôi nhìn sang Collin, anh ấy nhắm hai mắt mình lại, như thể đã chấp nhận... chấp nhận điều gì?
Khi người lính phía xa buông rơi vũ khí của mình, âm thanh va chạm vang cũng là lúc ánh sáng ấy bùng lên, chói đến mức không còn thấy gì khác ngoài trắng xoá.
Trong khoảng khắc ấy, mọi thứ trở nên lặng đi. Thời gian bỗng dưng trôi chậm lại. Bất giác tôi nhắm chặt hai mắt mình lại, không phải vì tôi sợ hãi, mà vì một chút sự hối hận muộn màng.
A... Có lẽ bố đã chưa thể nghĩ cho con một cái tên thật đẹp.
Rồi mọi thứ... biến mất.
-------
Ngày 26 tháng 12 năm 738 theo lịch Long Giáp.
Một vụ nổ với sức công phá vượt xa mọi chuẩn mực ma pháp thông thường đã xóa sổ hoàn toàn vương đô của Đế quốc Bahamut. Bán kính hủy diệt đo được là hơn 12 km. Không một ai sống sót tại tâm chấn. Vương triều hùng mạnh bật nhất lục địa sụp đổ chỉ trong một cái chớp mắt.
Sự kiện đó được ghi vào lịch sử và được biết đến với cái tên “Đêm Của Ánh Bình Minh.” Người đã gây nên biến cố ấy là Regulus Morningstar. ông đã thi triển “Siêu Tân Tinh” một ma pháp do chính ông sáng tạo, có sức công phá tương đương một vụ nổ hạt nhân, và được xem là không thể học, không thể bị ngăn chặn.
Sau sự kiện, Tam hoàng tử Afalron Elephanor, người duy nhất trong hoàng tộc sống sót do đang du học ở Học Viện Hoàng Gia Mikaya lên ngôi, trở thành vị hoàng đế trẻ tuổi nhất trong lịch sử khi mới tròn 13 tuổi.
Một hội nghị khẩn cấp được triệu tập bởi Liên Hiệp Các Quốc Gia, với sự tham gia của 13 quốc gia. Hệ quả của sự kiện “Đêm Của Ánh Bình Minh” là sự hình thành hai hiệp định mang tính bước ngoặt:
Hiệp định Morningstar: Cấm tuyệt đối Regulus Morningstar đặt chân lên bất kỳ lãnh thổ nào ngoài Slainn. Trong trường hợp ông xuất hiện ở một quốc gia khác, điều đó được xem như lời tuyên chiến vô điều kiện. Liên minh đa quốc gia sẽ lập tức được tái lập để đối đầu với Slainn. Regulus được ghi nhận trong danh sách là "Kẻ Chống Nhân Loại".
Hiệp định Vexsail: Cấm phổ cập hoặc nghiên cứu ma pháp dịch chuyển. Mọi hành vi dịch chuyển trái phép đều bị xem là trọng tội bị tử hình ngay lập tức, không xét tội danh. Chỉ những người thuộc chức nghiệp đặc thù như Không Hành Giả hoặc Lộ Trình Sư mới được phép học và sử dụng ma pháp dịch chuyển, dưới sự giám sát của Liên Hiệp.
Để kiểm soát, các quốc gia lần lượt thành lập Tháp Dịch Chuyển (cho phép dịch chuyển liên quốc gia có kiểm soát) và dựng lên Cột Trụ Dịch Chuyển (tạo ra các bức màn gây nhiễu nhằm vô hiệu hóa các loại dịch chuyển không phép.)
Chaporia
Bình Luận (0)