Bức chân dung của sự thật/Chapter 6: Rong ruổi nơi xứ người (Phần 1)Chapter 6: Rong ruổi nơi xứ người (Phần 1)
20px

- Này Andrew, mạo từ “die” ở câu này sao lại dùng với danh từ giới tính Nam nhỉ? Hay từ này đi với mạo từ “die” mang một nghĩa khác?

Andrew nghiêng người ngó vào cuốn sách trên tay anh thám tử, chợt nhớ về khoảng thời gian trước kia mình cũng có thắc mắc tương tự vậy.

- Anh cũng tinh ý đấy! Đúng là có một số từ viết giống nhau, cho nên việc thay đổi mạo từ chính là dấu hiệu để chỉ ra sự khác nhau trong ngữ nghĩa của chúng. Nhưng ở đây, mạo từ “die” được dùng là mạo từ số nhiều! Có một số từ khác thì dùng “das” cho danh từ trung tính bởi từ đó nằm trong một bộ quy tắc khác. Ví dụ như là Mädchen, có nghĩa là bé gái, dùng mạo từ “das” vì có đuôi “-chen”, thường thì vụ này người Đức không quá khắt khe đến mức phải liệt kê ra 365 động từ bất quy tắc như Tiếng Anh đâu. Anh có thể đoán giới tính của danh từ qua đuôi-

- Okay Okay!_ Francis giơ hai tay ra đầu hàng._ Tôi cảm thấy hôm nay học tiếng Đức đến đây là đủ rồi!  Câu chuyện về ông chủ điền trang mà ta đang trên đường tới có lẽ sẽ dễ vào đầu hơn.

Chiếc Mercedes-Benz W124 màu đen tuyền lần lũi băng qua con đường cao tốc vắng bóng phương tiện qua lại, cần gạt nước miệt mài gạt đi từng đợt tuyết phủ nhờ lờ trên kính lái. Ngoài kia, mặt đất và bầu trời bị xóa nhòa ranh giới bởi màn tuyết trắng mờ ảo. Anh đang nghiền ngẫm cuốn sách học tiếng Đức cơ bản. Trước đó, Andrew có nhắc đến chuyện Quý ông mà họ sắp sửa đến thăm là một người rất thạo tiếng Pháp, nhưng Francis không cho rằng như thế là đủ. Vậy còn quý Phu nhân và các giai nhân thì sao? Họ có thể nói được tiếng Pháp khi anh hỏi chuyện không? Và thế là những cuốn sách tự học, băng cassette, báo tiếng Đức, vài mẩu trò chuyện qua đài radio của người dân Berlin,... dần nhiều lên trong căn hộ nhỏ bé của vị thám tử. Anh cố gắng tận dụng khoảng thời gian di chuyển để chắc chắn rằng mình không bỏ quên câu giao tiếp nào quan trọng. Có vẻ như thứ tiếng khó nhằn ấy đã chiếm dụng gần hết thời gian nghỉ ngơi của Francis, để rồi sau đó biến anh ta, từ một người từng trắng đêm nhiều ngày ở Tổng hành dinh cảnh sát, trở nên dễ bị hạ gục bởi chuyến đi dài tưởng chừng như vô tận từ Paris đến Baden-Baden. Anh thấy đầu mình ong ong sau từng lần lật sách. Anh thấy những con chữ “der, die, das” cùng các quy tắc ngữ pháp phức tạp cứ nhảy nhót loạn hết cả lên. Vị thám tử dập tắt cái vũ điệu mất kiểm soát kia bằng một cú đóng sách mạnh, đoạn cất tiếng trò chuyện, hòng giữ lại được sự tỉnh táo.

Trái ngược với anh, Andrew trông không có vẻ gì là mỏi mệt. Có lẽ vì cậu ta không bị những con chữ dày vò như ai kia. Chàng họa sĩ đáp lại một cách từ tốn, mắt vẫn không rời khỏi những bông tuyết phất phới ngoài cửa kính. 

Cách đây nửa tháng, trước khi Paris đón bông tuyết đầu mùa, Francis nhận được lời mời phá án của Andrew, tại một dinh thự nằm sâu trong Rừng Đen phía Tây Nam nước Đức.

Bá tước Theodor Waldenburg, một quý ngài mang dòng dõi quý tộc truyền đời, đang bị một kẻ nào đó nhăm nhe đe doạ đến tính mạng. Vào ngày đầu tiên của tháng 12 năm ngoái, một lá thư nặc danh được gửi đến chỗ ông ta bằng một phương thức vô cùng khủng khiếp và ám ảnh, nội dung thì toàn là những lời lẽ khó hiểu. Vài ngày sau, em gái ông ta qua đời vì bị đầu độc. Phía cảnh sát đã vào cuộc nhưng chưa tìm ra câu trả lời thỏa đáng. Trong cơn tuyệt vọng và sợ hãi tột độ ấy, ngài Bá tước đành phải gửi lời mời thiết tha đến đứa con trai của người bằng hữu năm xưa - cậu Andrew De Maurier - với hi vọng nhận được sự giúp đỡ.

Năm nay, vẫn là vào ngày đầu tiên của tháng 12, lá thư đó lại đến.

- Phía trước có trạm dừng chân, anh có muốn ghé lại đó chút không?

- Không cần đâu, tôi muốn đến nơi càng sớm càng tốt.

Chiếc xe chở họ đã tiến vào địa phận lãnh thổ nước Đức. Francis không nhận ra điều đó qua cột mốc biên giới, mà là sự thay đổi trong không khí. Những bông tuyết thưa dần rồi ngừng hẳn. Những ngôi nhà đều tăm tắp bắt đầu hiện ra xung quanh. Chúng không còn là những khối hình bất đối xứng của chủ nghĩa Hậu hiện đại(1), mà thay vào đó là sự tối giản, đồng đều ở cả hai bên, với kiểu mái Walmdach(2) đặc trưng.

Họ sẽ không cùng chiếc Benz này tới thẳng Rừng Đen. Tại một địa điểm chỉ định trên đường Schutterwälder Straße, đang chờ sẵn họ là một chiếc xe khác, cũng màu đen bóng, im lìm và sang trọng hơn.

Người quản gia già nhà Maurier từ từ dừng xe lại nơi đã hẹn. Ông ta chủ động xuống xe, phụ giúp hai người lấy hành lí. Trước khi rời đi, ông ta khẽ cúi đầu, kính cẩn gửi lời tạm biệt.

- Chúc cậu có một chuyến đi bình an, thưa cậu chủ.

Ngay sau đó, cửa chiếc xe đang chờ đã bật mở. Người đón tiếp họ là một ông già đã tới tuổi xế chiều. Từ bộ vest được cắt may hoàn hảo, đôi giày da bóng loáng cho đến mái tóc hoa râm được chải chuốt tỉ mỉ, mọi thứ trên người ông ta đều toát lên vẻ nghiêm chỉnh và kỉ luật. Ông ta không vội vã, chỉ tiến lại gần, lịch sự chào hỏi Andrew, rồi mở cửa xe cho họ.

Con đường mòn lên núi chỉ vừa đủ cho hai chiếc xe đi tránh nhau, ngoằn nghèo và uốn lượn như một con rắn khổng lồ bên sườn vực thẳm. Dinh thự của ngài Bá tước không sừng sững một cách kiêu ngạo, mà trầm mặc nép mình giữa rừng thông đen. Tuyết đã phủ dày trên mái ngói đỏ, đọng lại trên những đường gờ trang trí cầu kỳ và khoác một tấm thảm trắng đục trên từng cành cây ngọn cỏ ngoài khuôn viên. Phần tường lớn được xây bằng đá sa thạch màu vàng cát, trông nhợt nhạt chứ không hề toát ra vẻ ấm áp. Những ô cửa sổ hẹp và cao theo phong cách Neo Baroque(3) làm Francis nhớ đến lối kiến trúc Gothic thường thấy ở các nhà thờ vùng ngoại ô Paris.

Cửa lớn được mở ra. Một người đàn bà trung niên, mặc chiếc tạp dề lớn màu trắng đã ngả màu, lịch sự đón lấy áo khoác, khăn choàng và hành lí của hai vị khách. Bá tước Waldenburg đã đứng đợi sẵn ở đó. Ông ta khoảng bảy mươi tuổi, mái tóc bạc trắng chải ngược ra sau, đôi mắt xanh biếc nheo lại, lộ rõ vẻ vui mừng. Tuy rằng sở hữu chiều cao khiêm tốn, nhưng ông ta rất biết cách tự làm mình nổi bật với bộ vest nhung màu mận cùng với viên hồng ngọc to cỡ ngón tay cái đính trên cổ áo. 

- Rất hân hạnh được gặp ngài, Bá tước von der Waldenburg!

Andrew chủ động bắt tay một cú thân mật. Trông vẻ mặt của hai người không khác đối tác thân quen lâu ngày là bao.

- Cậu khách sáo quá, gọi ông Waldenburg là được rồi! _ Ngài Bá tước hồ hởi._ Còn quý ông đây hẳn là người mà cậu Maurier nhắc tới.

Francis cũng làm một cú bắt tay hữu nghị.

- Tôi là Édouard De Rastignac. Hân hạnh được gặp ngài.

Phòng mời khách của dinh thự đã sẵn sàng chào đón vị thám tử và chàng hoạ sĩ. Lò sưởi bằng đá trắng đã đỏ lửa. Những cây nến trên giá đều đã được thắp lên, khéo léo lấp đầy không gian bằng mùi quế và mùi gỗ thông nhè nhẹ.

- Trận tuyết vừa rồi thật tình làm tôi không yên tâm chút nào! Nếu không may hai vị gặp chuyện gì trên đường thì, quả thực đây là tội lỗi lớn nhất của dòng họ chúng tôi.

- Không phải chuyện đáng lo đâu, thưa ngài! Ông Behrens đã đón tiếp chúng tôi bằng tất cả sự hiếu khách và lòng thành kính của một người quản gia. Ngài nên cảm thấy tự hào về người của mình.

Ngài Bá tước cười lớn. Ông ta chỉ lên chiếc đầu hươu lớn với cặp sừng đồ sộ phía trên lò sưởi, hào hứng kể lại chiến tích gần đây của mình trong mùa săn bắn vài tháng trước. Rằng con huơu của ngày hôm ấy đã chạy trốn khỏi con chó săn của ông ta và các bằng hữu như thế nào, đã gục ngã dưới họng súng ông ta ra sao. Rằng cái chiến tích săn bắn trong 10 năm nay hầu hết đều rơi vào tay của nhà Waldenburg. Rằng những tay quý tộc trẻ kiêu căng vẫn thường xuyên tìm cách hạ bệ ông ta nhưng tất cả gì chúng nhận được chỉ là những cái nhìn khinh rẻ từ những người bằng hữu khác. 

Một lúc sau, đoạn diễn thuyết say sưa của Ngài Bá tước bị cắt ngang bởi tiếng "kétttt" từ bản lề cửa. Người quản gia được nhắc đến ban nãy bước vào, trên tay là một khay bạc đặt một bộ ấm chén bằng gốm hoa lam.

Ông ta nhẹ nhàng đặt chiếc khay lên bàn trà, cẩn thận nhấc chiếc ấm lên, rót đều thứ chất lỏng sóng sánh màu hổ phách vào bốn chiếc tách. Làn hơi mỏng manh, thơm mùi thảo mộc dịu dàng lan toả.

Người quản gia đặt lại chiếc ấm xuống khay, ông ta không vội bày trà ra bàn ngay, chỉ khẽ cúi đầu, nhỏ giọng với ngài Bá tước.

- Xin thứ lỗi. Cho phép tôi.

Ngài Waldenburg gật đầu, cầm một trong bốn chiếc tách trong khay đặt ra ngoài bàn. Ông Behrens lẳng lặng cầm lên bằng cả hai, từ tốn đưa tách trà lên môi và uống một hơi. Xong xuôi, ông đặt chiếc tách rỗng xuống khay, tiếng sứ va chạm vang lên một cách khô khốc. Rồi ông đứng thẳng, hai tay chắp sau lưng, im lặng chờ đợi.

Vẻ mặt hồ hởi khi nãy trên mặt ngài Bá tước đã biến mất, thay vào đó là nét nghiêm nghị, có phần căng thẳng, ánh mắt không rời khỏi người quản gia. Ông ta đang tìm kiếm một sự bất thường: một cái cau mày, một hơi thở gấp, một giọt mồ hôi. 

Nhưng không có gì xảy ra cả.

Khi đã hoàn toàn chắc chắn, ngài Bá tước mới khẽ gật đầu, người quản gia lập tức hiểu ý, cúi người lần nữa rồi lặng lẽ xoay gót giày rời đi.

- Vừa rồi là một thủ tục bắt buộc của gia đình tôi, thất lễ với hai vị rồi._ Quý ông kia lên tiếng, xua đi bầu không khí kì lạ vừa diễn ra.

- Ngài Waldenburg quả thực là một người chu đáo. _ Andrew lên tiếng, đưa tách trà lên nhấm một ngụm nhỏ.

- Chẳng giấu gì hai vị, câu chuyện kinh hoàng một năm trước vẫn còn ám ảnh gia đình tôi. 

Vừa dứt lời, ông ta rút trong túi áo khoác một chiếc phong bì màu kem, đóng dấu sáp màu đỏ thẫm, đưa cho Andrew. Bên trong là lá thư được viết bằng máy đánh chữ, đều đặn, ngoài ra không còn dấu vết nào khác thuộc về một con người.

“Ngài Bá tước Waldenburg của ta ơi,

Ta tự hỏi rằng, trong số những tên ma cà rồng ngoài kia, bao nhiêu kẻ đã bị thiêu rụi bởi những tia nắng bỏng rát, bao nhiêu kẻ đã tàn đời bởi cọc gỗ đóng xuyên tim. Nhưng ta dám chắc rằng, vẫn còn một vài tên hèn nhát, đang lẩn trốn trong màn đêm dài sâu thẳm. Và ta đây, với trái tim rực cháy như mặt trời, sẽ đích thân tiễn những tên ma cà rồng bẩn thỉu đó về địa ngục. Một phần của tội lỗi đã phải trả giá, ta hi vọng rằng cái chết của em gái ngươi sẽ khiến ngươi phải soi lại cái nhân cách thối nát mà ngươi đang che đậy suốt bao nhiêu năm nay. Dù ngươi có bày ra trò gì, ta vẫn sẽ đến. Ta sẽ hiện thân trong trận bão tuyết kinh hoàng nhất. Đừng tưởng rằng ngươi sẽ an toàn trong chiếc quan tài, bởi chính ta đây, quả báo của ngươi, sẽ không ngừng kiếm tìm ngươi. Ta sẽ lật từng ngôi mộ, xới từng huyệt đạo, nhổ từng chiếc bia đá để được nghe lời hối lỗi run rẩy của ngươi, để được trông thấy bản mặt trắng dại ra vì sợ hãi kia của ngươi.

Thân ái và mong đợi."

Andrew đọc lại lá thư bằng tiếng Pháp cho vị thám tử nghe. Cái giọng nhỏ nhẹ của cậu ta chẳng át đi bao nhiêu ngọn lửa hận thù hừng hực cháy trên từng con chữ.

Ngài Bá tước đưa chiếc tẩu hút một hơi, thật dài, đoạn thở ra làn khói mỏng. Ông ta dùng vốn tiếng Pháp ít ỏi của mình, chậm rãi dựng lại phần quá khứ kinh hoàng của một năm trước.

Đêm đó, tuyết rơi dày đặc. Gió gào thét không ngừng ngoài cửa sổ. Cả dinh thự nhà Waldenburg chìm vào giấc ngủ, chỉ có người chủ nhân của nó là vẫn còn thao thức vì một nỗi bất an. Con chó của ông, Jäger, sao đến giờ vẫn chưa chịu quay về? Nó đã bỏ đi từ trưa. Ông quản gia đã đi cả khu rừng để tìm nó, rồi đáp lại ông với một cú lắc đầu bất lực. Rốt cuộc thứ gì khiến nó đuổi riết đến tận cùng như vậy? Liệu cơn bão tuyết này có khiến nó nhớ đến hơi ấm của lò sưởi mà biết đường về nhà không?

Một tiếng rên ư ử não nề đáp lại giòng suy nghĩ của ông. Ngài Bá tước giật mình, đứng bật dậy, vội vã lao xuống cầu thang. Ông gọi cả người quản gia, gọi cả giúp việc. Đúng là tiếng của con Jäger rồi, nhưng cái tiếng kêu đó không bình thường chút nào.

Những viễn cảnh tồi tệ bắt đầu hình thành trong suy nghĩ của ông, nó bị gãy chân, bị dập mắt, bị rơi vào một cái bẫy nào đó rồi mãi đến bây giờ mới thoát được ra.

Và rồi, một trong những trường hợp tệ nhất đã bước ra khỏi tâm trí ông, trở thành một đoạn kí ức khủng khiếp mà đến giờ ông vẫn nghĩ là chuyện này mới xảy ra hôm qua.

Con chó săn Hanoverian dũng mãnh của ông đang trồi nửa người vào trong nhà thông qua lỗ chui chó. Bộ dạng của nó lúc đó không khác gì vừa chạy thoát khỏi bầy sói. Nó nằm đó, không còn đủ hơi sức để đưa phần thân sau vào bên trong nhà. Khi ông đưa tay kéo nó vào, ông thấy cả người con chó mềm nhũn, trên lưng và bụng lấm lem tuyết trắng và máu đỏ sẫm. Chân sau bên trái của nó bị đứt rời ra, không phải do bị chó sói cắn, cũng không phải bị thương do bẫy thú, mà là bị một ai đó cố tình chặt mất. 

Lá thư đầu tiên được dắt trong xích đeo cổ của con chó đó.

Giọng ông Waldenburg run lên, vài từ vấp nhẹ. Khi ông ta đọc lá thư, cơn tức giận khiến ông ném thẳng nó vào lò sưởi, không chút do dự. Lúc đó, ông ta chỉ nghĩ rằng đây là một lời hăm dọa đến từ đối thủ của mình, ngài Bá tước Eichmann ở bên kia Rừng Đen.

Rồi ngày đó cũng đến, chẳng phải trò bẩn tay của gã Bá tước nào cả, tên sát nhân đã thực sự đến dinh thự trong Rừng Đen của ông và ra tay với người em gái.

Bà Adriana Waldenburg, được tìm thấy trong tình trạng nằm gục trên bàn. Bên cạnh bà vẫn còn tách trà đang uống dở, bàn tay thì nắm chặt một bản sao của lá thư từng bị người anh trai của bà ném vào ngọn lửa.

Khoảnh khắc ngài Bá tước trông thấy lá thư đáng nguyền rủa ấy, cả người ông ta lảo đảo, mặt cắt không còn một giọt máu, hơi thở như nghẹn lại trong cổ họng. Từng dòng, từng câu, từng chữ trong lời đe dọa đó, chúng không còn là mực trên giấy nữa, mà đã trở thành những miếng sắt đúc thành hình, được nung đỏ trong “trái tim rực cháy như mặt trời”, và ép thẳng vào tâm trí ông, đóng một dấu ấn bỏng rát và vĩnh viễn.

Ông đã báo cảnh sát, nhưng thứ ông nhận được chỉ là một cái lắc đầu đầy bất lực. Ngay cả ngài Bá tước bên kia Rừng Đen cũng đã được chứng minh là không hề liên quan đến sự ra đi của em gái ông. Vụ án bị bỏ ngỏ vì thiếu manh mối.

Một trận tuyết rơi khác lại đến, mang theo lá thư được thề nguyền năm ấy. Lần này, nó đến với ông bằng một hình thức trang trọng hơn. Một chiếc hộp bằng nhung đỏ được gửi đến qua đường bưu điện. Bên trong vẫn là lá thư viết bằng máy đánh chữ, và một lọn tóc xoăn màu vàng - tóc của em gái ngài Bá tước.

Ngài Waldenburg bấu lấy phần tay vịn trên ghế, cố gắng kìm lại cơn run rẩy trong lòng bàn tay. Chẳng trách những tách trà cũng khiến quý ông đây căng thẳng như vậy. Ông ta trộm liếc về phía chiếc lò sưởi đang cháy âm ỉ, ánh mắt nặng nề như thể ông ta ước rằng một năm trước mình chưa từng làm vậy.

- Xin ngài hãy bớt lo lắng. Chẳng phải tuyết đã ngừng rơi khi chúng tôi đặt chân đến đây rồi sao?

Andrew từ tốn trấn an ông ta bằng một câu tiếng Đức. Người đàn ông kia nhìn cậu ta rồi thở hắt ra một hơi, cầm lấy tách trà trên bàn, nhanh chóng lấy lại tinh thần.

- Quả đúng là như thế! Tôi nghe nói quý ngài đồng hành của cậu Maurier đây là một vị thám tử xuất chúng ở kinh đô Paris. Liệu ngài đây có thể cho tôi được biết một số vụ án kinh điển mà ngài đã tham gia có được không?

- Rất sẵn lòng thưa ông! Tôi xin phép được bắt đầu bằng một vụ trộm đá quý gây rúng động thủ đô nửa tháng trước…

Không khí trong phòng đã ấm dần lên bằng những lời kể của vị thám tử. Ngoài kia, gió đã bắt đầu thổi mạnh. Những đám mây xám xịt nặng nề đang dần sà xuống rặng thông đen ở đằng xa.

_____________

Chú giải:

(1) Chủ nghĩa Hậu hiện đại (Postmodernism): trào lưu nghệ thuật rộng lớn xuất hiện vào khoảng những năm 1960-1970 và kéo dài đến ngày nay, ra đời như một phản ứng chống lại những nguyên tắc cứng nhắc của Chủ nghĩa Hiện đại.

(2) Walmdach: tiếng Đức có nghĩa là mái nhà hông, một loại mái mà tất cả các mặt đều dốc xuống tường, không có đầu hồi hay cạnh thẳng đứng.

(3) Neo Baroque (Tân Baroque): phong cách mỹ thuật và kiến trúc xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tái hiện lại các yếu tố của phong cách Baroque gốc thế kỷ 17-18 nhưng với cách tiếp cận và mục đích mới.

Bình Luận (0)

Vui lòng Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận...