Sau khi rời khỏi tuyến đường đá, tôi cùng những người khác trong đội thợ săn chen chúc nhau để chui vào phòng tắm tập thể.
Nó là một nơi lạnh lẽo, ẩm mốc, và có mùi đúng như bản chất của nó, là một khu nhà gỗ chật chội, nơi mà hàng chục con người trút bỏ những bộ đồ đầy mồ hôi của họ, sau hàng tiếng đồng hồ di chuyển qua các cánh rừng đáng sợ.
Tôi gỡ bộ đồ màu nâu đỏ của mình ra như một chú sâu thoát khỏi kén, đặt những dụng cụ như súng, mũ da, cùng với chiếc huy hiệu người tiên phong xuống mặt bàn gỗ , rồi trần truồng bước vào căn phòng gỗ gần nhất.
Trong khu nhà gỗ chật chội này có tới hàng chục các căn phòng nhỏ như vậy, chúng được lắp thành hàng một cách ngay ngắn để mọi người trong làng sử dụng. Tôi thở dài, tiến lại gần thùng nước gần đó, rồi dội cho bản thân một gáo nước mát lạnh.
Tại nơi đây không có những điệu nhảy ăn mừng, không có những cú nhào lộn huênh hoang vì đã dành chiến thắng. Thứ duy nhất tồn tại ở đây là một người bạn và người bạn đó chính là sự mệt mỏi.
Các tiếng võ nhẹ vào đùi, cùng với những tiếng thở dài đầy nặng nhọc, chúng hòa quyện với âm thanh của tiếng dội nước để tạo ra một điệu nhạc của sự mệt mỏi.
Sau một lúc, cánh cửa gỗ của tôi mở ra, làm lặng đi các điệu nhạc.
Tôi chia tay Kaiz và Jonnes khi hai người họ tới Khu Sinh Hoạt Chung để uống rượu và nhảy múa tại các quán rượu trước khi vũ điệu ăn mừng Vòng Vinh Quang chính thức bắt đầu. Đám lính sẽ phân phát khẩu phần vật tư và thông báo trao Vòng Vinh Quang cho ngôi làng nào vào lúc nửa đêm. Trước và sau thời điểm đó, những người thợ săn, công nhân, thợ may, chúng tôi sẽ nhảy tưng bừng.
*
*
Tôi bước đi theo tuyến đường đầy bùn, phía sau tôi, là em gái tôi cùng với những người chị em của tôi. Tay tôi ôm một cuốn sách có màu xanh, xanh như những như cánh rừng đáng sợ, như những cánh đồng vô tận của miền trung Olas.
Đây là cuốn sách mà tôi thích nhất, cuốn sách về những vị thần, cuốn sách về các truyền thuyết của chúng tôi, của bán đảo Olas.
Theo những truyền thuyết cổ xưa, từ thời kỳ mà các vị thần còn chia nhau khu vực để cai trị, người ta nói rằng thần Olas hay thần chiến tranh là người cai trị vùng đất này. Ngài là cha đẻ của nước mắt và vũ khí, người ta nói ông là kẻ thù của những vũ điệu và âm nhạc. Nhưng tôi tự hỏi điều mà họ nói liệu có đúng, hay nó chỉ là một trong vô số lời tuyên truyền của hiệp ước, những lời tuyên truyền mà đã thấm sâu đến mức chúng tôi đã quên đi chính mình.
Khi nghe nói về những điều này lần đầu tiên, tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến đầu. Chúng tôi những người con của Olas, là những người con của nước mắt và vũ khí. Nhưng khi nói đến âm nhạc và vũ điệu và về việc Olas ghét nó, thì tôi bật cười, nếu nói những người con của vùng Olas này ghét âm nhạc thì chẳng khác nào đang nói thần ánh sáng đã thua trong cuộc thần chiến.
Có thể nó thật sự là sự thật chăng, ai mà biết được, nhưng dù nó có là sự thật, thì chúng tôi vẫn sẽ nhổ vào truyền thuyết đó và tạo nên đặc quyền con người duy nhất của riêng chúng tôi tại nơi đây. Đó là sự chống đối duy nhất của chúng tôi đối với Hiệp ước đang thống trị. Nó đem đến cho chúng tôi một chút tự tôn, một chút bản sắc.
Chúng tôi, là những người con của vùng đất Olas, chúng tôi là một cộng đồng của những điệu nhảy, những bài hát và gia đình. Và chúng tôi sẽ làm mọi thứ để bảo vệ nó.
Họ sẽ chẳng bận tâm đến chuyện chúng tôi nhảy hay hát đâu, chừng nào chúng tôi ngoan ngoãn "khai phá" khu rừng cho họ. Chừng nào chúng tôi tiếp tục phục vụ cho bọn họ. Dẫu vậy, để nhắc chúng tôi nhớ địa vị và vị trí của mình, bọn họ chọn ra một bài hát và một điệu nhảy mà nếu bất cứ ai thực hiện sẽ bị trừng phạt bằng án tử hình.
Bố tôi đã nhảy điệu đó trước khi ông trút hơi thở cuối cùng của mình trên dàn treo. Tôi mới chỉ được thấy điệu nhảy đó duy nhất một lần, và cũng chỉ nghe bài hát đó một lần.
Tôi đã không hiểu ý nghĩa của bài hát đó khi còn nhỏ, một bài hát về những thung lũng xa xôi, sương mù, tình yêu, về việc Ánh Dương sẽ dẫn dắt chúng ta tới ngôi nhà ấm áp. Lúc tôi còn bé, tôi đã rất tò mò khi người phụ nữ hát bài hát đó lúc người con trai của bà ta bị treo cổ vì tội ăn cắp. Cậu ta hẳn đã có thể lớn lên và trở thành một chàng trai cao lớn, song sẽ chẳng bao giờ có đủ thức ăn để bọc thịt quanh xương mình. Mẹ cậu ta chết ngay sau đó. Người dân làng chúng tôi đã làm một lễ tang dành cho họ, một màn cầu nguyện với thần ánh sáng, chúng tôi cầu cho linh hồn của bà được yên nghỉ và được dẫn dắt tới nơi tốt hơn, khi cầu nguyện xong, thì tất cả mọi người tiến lại và đụng vào người bà, trao cho bà những lời chúc phúc về thế giới bên kia, về chặng đường mới.
Sau khi hoàn thành, tất cả chúng tôi giải tán.
Bản nhạc ấy đã ám ảnh tôi suốt đêm đó. Tôi khóc một mình trong căn bếp nhỏ xíu của nhà mình, tự hỏi tại sao tôi lại khóc vì gia đình bà lão mà lại không hề khóc vì bố mình. Trong lúc nằm trên sàn nhà lạnh lẽo, tôi nghe thấy một tiếng động khe khẽ trên cánh cửa nhà mình. Khi mở cửa, tôi nhìn thấy một bông hồng nhỏ nằm trên nền đất, không có một bóng người, chỉ có những dấu chân nhỏ trên đất, tôi đã luôn tự hỏi dấu chân đó là của ai.
Có những lúc, khi tôi nhớ về điều đó, tôi đã tự nhủ rằng phải chăng vì các bài hát và vũ điệu đã nằm sâu trong máu của chúng tôi, nên lúc đó tôi đã không khóc vì bố, mà lại khóc vì bài hát.
*
*
Có lúc, tôi tự hỏi rằng mình đã yêu em từ lúc nào. Phải chăng từ lúc mà em ôm tôi vào lòng ở bãi biển, hay những lúc em ngồi bên tôi trong bệnh viện cũ kỹ của ngôi làng.
Tôi không rõ...mình yêu em từ lúc nào...nhưng tôi biết, tôi luôn muốn nhìn thấy em, nhìn em cười, em nói, em nhảy múa trong điệu nhạc.
Lần đầu tiên tôi thấy em nhảy là trong một quán rượu mù mịt cũ kỹ. Khi mái tóc vàng lúa của em tung bay, đôi bàn chân em nhảy theo điệu đàn dây và hông đung đưa theo nhịp trống, trái tim tôi đã lỡ mất mấy nhịp đập khi chứng kiến nó. Không phải do những động tác nhào lộn hay xoay vòng của em. Điệu nhảy của em không hề có những trò điên rồ huênh hoang thường thấy trong các điệu nhảy của giới thanh niên. Những điệu nhảy của em là một thứ chuyển động duyên dáng, kiêu hãnh, ngọt ngào.
Không có em, tôi không thể sống.
Có thể em sẽ chọc tôi vì đã nói vậy, nhưng theo tôi thấy em chính là tinh thần, là đại diện cho mọi thứ tốt đẹp của Olas. Cuộc sống đã đối xử với em và các bạn của em thật nghiệt ngã. Họ đã phải hy sinh vì lợi ích của những kẻ mà họ không hề quen biết. Họ phải săn bắn, làm việc để chuẩn bị sẵn sàng cho những kẻ bề trên. Họ đã phải phục tùng.
Việc này đã biến vài kẻ trong số họ thành những người có tính khí tệ hại. Song lòng nhân hậu của Aurora, tiếng cười của em, ý chí quật cường của em, là những gì tốt đẹp nhất có thể sản sinh từ ngôi nhà mà em sống.
Tôi nhìn về phía trước, về phía một căn nhà nằm ở gốc bìa của ngôi làng, nó là ngôi nhà gỗ cũ kỹ của tôi và em, ánh mắt tôi quan sát tổ ấm nhỏ bé mà tôi cùng em gọi là nhà. Ngôi nhà được làm bằng gỗ đơn sơ, những mảnh gỗ mà tôi mua được từ ông Lawn với số tiền ít ỏi mỗi tháng có được. Một nụ cười khẽ nở nơi khóe môi tôi, tôi cười vì tôi biết rằng đây sẽ là nơi tôi sẽ dành cả đời bên em và những đứa trẻ.
Nơi ở của gia đình em khá gần đây, chỉ khoảng bốn mươi bước chân. Lúc đầu Aurora và tôi sống ở nhà của mẹ em cùng với gia đình của Jonnes và em gái của Aurora. Mãi đến bốn tháng gần đây thì chúng tôi mới có được ngôi nhà của riêng mình.
Nhà chúng tôi chỉ cách Khu Sinh Hoạt Chung khoảng hai dặm đi đường.
May mắn thay ngôi làng Auions này là một trong số những ngôi làng gần Khu Sinh Hoạt Chung nhất. Các ngôi làng khác như làng Watos và Vitesia, láng giềng của chúng tôi, cần phải di chuyển ít nhất là khoảng thêm hai tiếng nếu đi bộ theo con đường đất về phía bắc. Nhưng khi nói đến ngôi làng nào gần nhất thì ta không thể không nhắc đến Naizas. Họ sống tại Khu Sinh Hoạt Chung, phía bắc các tửu quán, xưởng sửa chữa, hiệu tơ lụa và những khu chợ.
Tôi đi ngang qua bảng thông báo to lớn của làng Auions, trên đó là những hình vẽ đầy hào hùng về các cuộc chiến tranh của nhân loại chống lại các thế lực của vực sâu vào hơn ba ngàn năm trước. Kế bên những hình vẽ đó là một văn bản "tuyên truyền" của Hiệp Ước. Được viết bởi chính "Đấng cứu thế" Florianus an Aquila và được đóng dấu bởi con dấu của hiệp ước, một thanh kiếm trắng đâm xuyên qua một con quái vật có chín xúc tu.
Tôi quan sát tờ giấy và nó vẫn giống như cũ, nó thuật lại lời tuyên truyền về cuộc chiến mà con người phải đối diện với những thảm họa hiểm nguy, và về việc hiệp ước chân thành cảm ơn những người tiên phong đã tiếp tục khai phá rừng vô tận.
"Từ thuở bình minh của loài người, bản trường ca với tư cách một loài của chúng ta đã là một câu chuyện về chiến tranh và nước mắt. Hơn ba ngàn năm trước, những con quái vật từ vực sâu trỗi dậy và đắm chìm thế giới trong màu của cái chết, nhưng với sự trợ giúp của những bề trên, chúng ta đã dành chiến thắng."
"Đó là một cuộc chiến đầy thử thách, hy sinh, một cuộc tranh đấu đầy tàn bạo để thách thức những giới hạn của chúng ta. Giờ đây, nhờ bổn phận và sự phục tùng, chúng ta đoàn kết và tiến lên, nhưng cuộc tranh đấu của chúng ta không hề kết thúc. Hỡi những người con trai và con gái của mười quốc gia, chúng ta lại phải được cậy nhờ phải hy sinh một lần nữa. Vào thời khắc đẹp đẽ nhất này của mình, chúng ta rải những hạt giống tốt nhất có được tới những lục địa mới, những lãnh thổ còn bị đắm chìm trong bóng tối. Ở nơi nào chúng ta sẽ thành công đầu tiên? Epirien? Rolica ? "
"Người con của chiến tranh, những người tiên phong can đảm của Olas, những người mạnh mẽ nhất của giống loài, những người hy sinh cho tiến bộ, hy sinh để mở đường cho tương lai. Cuộc đời của các bạn, dòng máu của các bạn là khoản ứng trước cho sự bất tử của loài người khi chúng ta vượt ra ngoài rừng vô tận để tiến tới lục địa mới. Các bạn tới nơi chúng tôi không thể tới. Các bạn chịu khổ sở để những người khác không phải chịu."
"Tôi gửi lời chào đến các bạn. Tôi yêu quý các bạn. Những bộ da động vật của các bạn là thứ quý giá đẹp đẽ, những khúc gỗ các bạn khai thác là nền móng của quá trình hình thành những thành phố tuyệt đẹp. Không bao lâu nữa, phía nam Olas sẽ có những cánh đồng tuyệt đẹp, những mảnh đất phù hợp để trồng trọt, để phát triển"
"Và rất nhanh thôi, khi rừng vô tận bị xuyên phá, khi các bạn, những người tiên phong can đảm, đã chuẩn bị sẵn sàng con đường cho chúng tôi, các lãnh đạo yếu mềm này, chúng tôi sẽ tới gia nhập cùng các bạn, và các bạn sẽ được tôn vinh dưới vòm trời sáng rực với sự trân trọng lớn nhất mà sức lao động của các bạn đã tạo nên. Mồ hôi và máu của các bạn đã khởi nguồn cho việc tạo nên một vùng đất mới"
"Hỡi những người tiên phong can đảm, hãy luôn nhớ rằng phục tùng là phẩm hạnh cao nhất. Trên tất cả, phục tùng, tôn trọng, hy sinh, thứ bậc..."
Tôi thở dài, lơ đi tấm bảng thông báo trước khi tiến vào căn nhà. Tôi quan sát khắp nơi, cố gắng để tìm kiếm em. Tôi không thấy ai trong bếp, nên di chuyển qua phòng ngủ thì tôi nghe thấy âm thanh của em qua cánh cửa gỗ.
"Đứng yên!" em ra lệnh, vọng qua cánh cửa. "Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được nhìn vào phòng này."
"Được thôi." Tôi dừng lại, mỉm cười.
Em bước ra một phút sau đó, bối rối và đỏ bừng. Mái tóc em phủ đầy bụi và những hạt cát trắng. Tôi lùa bàn tay qua mái tóc rối bù đó. Em vừa ở Khu nhà máy về, rồi chắc lại ghé qua bãi biển để nghỉ ngơi.
"Em vẫn chưa tắm à" tôi mỉm cười nói.
"Em không có thời gian rảnh để làm việc đó. Em phải hoàn thành công việc nhanh rồi rời khỏi nhà máy sớm để lấy một thứ. Xong em lại trò chuyện với một vài người bạn của mình"
"Em đã lấy thứ gì thế ?" tôi tò mò lên tiếng hỏi, cố gắng để liếc mắt vô phòng ngủ tìm kiếm.
Em nhìn tôi, mỉm cười ngọt ngào trước khi đưa tay lên để che đi mắt tôi.
"Hãy nhớ rằng anh cưới em đâu có nghĩa là em sẽ phải nói với anh mọi chuyện phải không nào ? nhớ điều đó đấy. Và đừng đi vào trong phòng đó."
Tôi nhìn em, rồi nhìn cánh cửa, có vẻ như em đã thành công đánh thức được sự tò mò của tôi.
Tôi lao về phía cánh cửa. Nhưng em chặn tôi lại, rồi kéo chiếc nón thợ săn trên đầu tôi để che đi cặp mắt tò mò. Trán em đột nhiên tựa vào ngực tôi. Tôi bật cười, lấy chiếc nón xuống, nắm lấy vai em và đẩy em lùi lại vừa đủ để tôi nhìn thẳng vào mắt em.
"Nếu anh muốn biết thì sao?" tôi nhướng mày lên hỏi.
Em chỉ mỉm cười với tôi và nghển đầu lên. Tôi quay lưng lại cánh cửa gỗ. Tôi có thể không chớp mắt mà lao thẳng vào một con gấu ngôi sao. Có những lời cảnh báo mà ta có thể mặc kệ được, nhưng cũng có những lời không thể mặc kệ.
Em nhón chân lên và véo mũi tôi thật mạnh. "Cậu bé ngoan, em biết anh là người dễ huấn luyện mà," em nói, nở một nụ cười nhẹ trước khi mũi em nhăn lại vì ngửi thấy mùi máu trên người tôi.
Em không nâng niu tôi, không mắng mỏ, thậm chí chẳng nói gì ngoài, "Em yêu anh" với một chút lo lắng trong giọng nói.
Em gỡ những mảnh vải vụn của bộ đồ thợ săn tôi đã xé để băng bó chân. Mảnh vải nhỏ này dính đầy máu, thậm chí một số giọt còn lọt qua và đang chảy xuống bàn chân tôi, tạo ra một khung cảnh kinh người.
Em im lặng nhìn nó, rồi cẩn thận lao đi những giọt máu đã chảy ra khỏi vết thương từ chân tôi, rồi em băng chặt lại bằng một đoạn băng có kháng sinh và thuốc giảm đau.
"Em kiếm thứ đó ở đâu ra vậy?" tôi hỏi, nhíu mày lên và nhìn em.
"Nếu em đã không lên lớp anh, thì anh cũng không được vặn hỏi em."
Tôi hôn lên mũi em, mân mê đùa nghịch phần tóc quấn quanh ngón tay đeo nhẫn của em. Phần tóc này là phần tóc của tôi, nó kết lại cùng những mẩu lụa làm thành nhẫn cưới cho em.
"Tối nay em có một bất ngờ dành cho anh đấy" em nói với tôi.
"Thật là trùng hợp, tối nay anh cũng có một bất ngờ dành cho em" tôi vừa nói, vừa nghĩ tới Vòng Vinh Quang. Tôi mỉm cười giơ tay lên và đặt chiếc nón thợ săn của mình lên đầu Aurora như một chiếc vương miện.
"À, phải rồi, không phải một, thực ra thì em có tới tận hai điều bất ngờ dành cho anh, Arthur ạ."
"Điều bất ngờ này sẽ khiến anh vui lắm cho coi, em cá là anh sẽ vui đến mức mà anh tự hỏi tại sao mình đã không thể đoán trước và tặng cho em một tấn viên đường hay một tấm lụa vàng hay thậm chí là cà phê."
"Cà phê á!" tôi bật cười. "Em nghĩ em đã kết hôn với người thuộc tầng lớp nào thế?"
Tôi cười, nhưng lòng tôi đau nhói. Đáng ra khi ở trên chiếc tàu đó, tôi nên giữ bên mình nhiều tiền hơn, dù một ít đi nữa cũng đủ cho tôi và em sống đến cuối đời trong căn nhà nhỏ.
Em thở dài. "Đúng là chẳng ích gì khi nói với một thợ săn, không chút nào"
"Nhất là với một thợ săn điên rồ, bướng bỉnh, liều lĩnh..."
"Khéo léo nữa chứ nhỉ?" Tôi nói kèm theo nụ cười tinh quái, trong lúc lướt bàn tay lên theo vạt váy em.
"Cứ cho là điều ấy là lợi thế đi." Em mỉm cười và gạt bàn tay tôi ra như thể nó là một con nhện.
"Giờ thì mang chiếc quần dài hơn này vào trừ khi anh muốn nghe đám phụ nữ cằn nhằn."
Chaporia
Bình Luận (0)