20px

Nói ra thì ít ai tin, nhất là mấy người lớn hay cau có trong cái xóm Chùa này, nhưng tôi cam đoan là con Mực nhà tôi biết cười.

Thật đấy! Không phải kiểu nhe răng gầm gừ như con vện dữ dằn nhà bà Năm Trầu mỗi khi thấy bóng dáng mấy thằng nhóc tụi tôi thập thò ngoài cổng đâu. Con Mực cười theo một kiểu rất quý tộc, hay ít nhất là tôi nghĩ thế. Mỗi khi tôi đi học về, quăng cái cặp sách cái “bịch” xuống phản gỗ, nó sẽ chạy ra, ngoáy tít cái đuôi đen thui như khúc củi cháy dở, rồi nhe hàm răng trắng hếu ra, mắt nheo lại thành hai sợi chỉ. Cái mặt nó lúc đó trông hệt như một ông cụ non vừa trúng số độc đắc, vừa gian manh lại vừa nịnh nọt.

Tôi đặt tên nó là Mực, đơn giản vì nó đen từ đầu tới chân, đen như hũ nút, đen đến mức nếu nó nằm im trong góc bếp lúc chập choạng tối thì có họa may thánh thần mới nhìn thấy nó, còn người phàm như bố tôi thì chỉ có nước vấp phải nó rồi ngã dúi dụi.

Nhưng người duy nhất trong cái xóm này, ngoài tôi ra, tin rằng con Mực biết cười là thằng Tí.

Tí là bạn "chí cốt" của tôi. Mà phàm ở đời, những thằng bạn thân nhau thường có những điểm chung rất tréo ngoe. Tôi thì gầy nhom như cây sậy, còn thằng Tí thì tròn vo như hột mít. Tôi trầm tính - tự tôi thấy thế, còn thằng Tí thì mồm miệng liến thoắng như con sáo sậu. Điểm chung duy nhất gắn kết hai đứa tôi, ngoài việc cùng học lớp 5C, là khả năng gây rắc rối siêu hạng và niềm đam mê bất tận với những trò chơi “ngu” giữa trưa nắng chang chang.

Sở dĩ gọi nó là Tí "sún" vì hàm răng cửa của nó đã "đi vắng" hai cái từ hồi đầu hè. Nó bảo là do gặm mía, nhưng tôi thừa biết là do hôm bữa trèo tường rào nhà ông Tư Râu trộm ổi, bị chó đuổi nên ngã dập mặt.

Mỗi lần thằng Tí cười, gió lùa qua kẽ hở nơi hai cái răng cửa biến mất tạo ra một tiếng gió rít khe khẽ, nghe vui tai đáo để. Và lạ lùng thay, hễ thằng Tí cười toe toét với cái miệng sún của nó, thì con Mực cũng nhe răng ra cười theo.

Một đứa trẻ sún răng và một con chó đen nheo mắt cười hềnh hệch tạo nên một bức tranh kỳ khôi đến mức ai nhìn vào cũng phải phì cười. Nhưng với tôi, đó là hình ảnh đẹp nhất của mùa hè năm ấy.

Đó là cái mùa hè mà trời nóng như đổ lửa xuống xóm Chùa. Nắng nhuộm vàng ngọn tre, làm nứt nẻ cả bờ đê và khiến dòng sông Ngàn lười biếng trôi đi như một dải lụa cũ. Người lớn trong xóm thường trốn biệt trong nhà vào buổi trưa, phe phẩy cái quạt nan và than vãn về chuyện mùa màng, giá cả.

Chỉ có tụi tôi là không biết nóng.

Giữa cái nắng chói chang ấy, "bộ ba rắc rối" gồm tôi, thằng Tí sún và con Mực thường đóng đô ở gốc cây bàng vuông đầu ngõ. Đây là đại bản doanh, là căn cứ địa, và cũng là "quán tạp hóa" trong trí tưởng tượng của chúng tôi.

- Mày nhìn xem con Mực nó đang cười hay đang khinh bỉ tao vậy?” - Thằng Tí vừa quệt mồ hôi trán, vừa chìa nửa củ khoai lang nướng dở ra trước mặt con chó.

Con Mực khịt khịt mũi, rồi nheo mắt, mép nhếch lên.

– Nó cười đấy. – Tôi khẳng định chắc nịch, tay đang bận rộn buộc lại sợi dây chun của cái ná thun. – Nó cười vì mày ăn tham, mặt dính đầy nhọ nồi kìa.

– Xì! – Thằng Tí bĩu môi, tiếng gió lại rít qua kẽ răng sún. – Tao thấy nó cười vì sắp được ăn khoai thì có. Mà mày biết không, bà nội tao bảo chó mực là loài chó có linh tính. Nó nhìn thấy được những thứ mà người thường không thấy.

– Thấy ma hả? – Tôi rùng mình, nhưng cố tỏ ra cứng cỏi.

– Không hẳn. – Tí hạ giọng, ra vẻ bí hiểm. – Bà tao bảo nó nhìn thấy được... nỗi buồn. Ai mà buồn, nó sẽ không cười đâu. Nó chỉ cười với những người đang vui, hoặc sắp gặp chuyện vui thôi.

Tôi nhìn con Mực. Nó đang nằm dài, lưỡi thè ra thở hồng hộc, đôi mắt ươn ướt nhìn tôi đầy tin cậy. Nó có thấy nỗi buồn không? Tôi không biết. Năm đó tôi mười một tuổi, nỗi buồn lớn nhất của tôi chỉ là bị điểm kém môn Toán hay bị mẹ bắt ngủ trưa. Thế giới trong mắt tôi lúc ấy trong veo, không một gợn mây, phẳng lì và êm ái như mặt nước hồ thu.

Tôi đâu ngờ rằng, lời nói bâng quơ của thằng Tí hôm ấy lại giống như một điềm báo. Rằng nụ cười của con Mực, và cả cái kẽ răng sún ngộ nghĩnh của thằng Tí, sẽ là những thứ hành trang quý giá nhất tôi mang theo, để đi qua những ngày giông bão sắp sửa ập đến với tuổi thơ của chúng tôi.

Nhưng đó là chuyện của sau này. Còn lúc ấy, con Mực bỗng chồm dậy sủa váng lên. Thằng Tí cũng nhảy cẫng lên, chỉ tay về phía vườn xoài nhà lão Hạc đầu xóm.

– Ê mày! Lão Hạc đi vắng rồi! Tao thấy cổng mở toang!

Ánh mắt hai đứa gặp nhau, sáng rực lên như hai đốm lửa. Con Mực vẫy đuôi loạn xạ, dường như nó cũng hiểu: Một phi vụ mới sắp bắt đầu.

Mùa hè, thực sự bây giờ mới đến.

Bạn có cảm thấy không khí của xóm Chùa đã ùa về chưa?

Vườn nhà lão Hạc được lũ trẻ xóm Chùa phong tặng danh hiệu là "Tử Cấm Thành".

Không phải vì trong đó có vua chúa hay cung tần mỹ nữ, mà vì lão Hạc dữ như chan tương. Lão có một hàng rào dâm bụt dày đặc, được gia cố thêm bằng mấy lớp tre gai nhọn hoắt mà chỉ cần nhìn thôi cũng đủ thấy da thịt râm ran ngứa. Nhưng trớ trêu thay, chính giữa cái "pháo đài" bất khả xâm phạm ấy lại mọc lên một cây xoài cát cổ thụ, trái nào trái nấy vàng ươm, to như cái gáo dừa và tỏa hương thơm thách thức mọi cái mũi thính nhất của lũ học trò.

Kế hoạch của thằng Tí được vạch ra chớp nhoáng nhưng đầy vẻ chuyên nghiệp của một "tướng cướp" già đời.

– Tao sẽ trèo. Mày canh chừng ở cổng. Con Mực... – Nó ngập ngừng nhìn con chó đang thè lưỡi thở. – Mày giao nhiệm vụ cho con Mực làm "chim mồi". Nếu thấy lão Hạc về, mày huýt sáo ba tiếng, con Mực sủa hai tiếng. Rõ chưa?

Tôi gật đầu lia lịa, tim đập thình thịch như trống làng. Dù sao thì tôi cũng chỉ đóng vai tòng phạm, tội trạng có vẻ nhẹ hơn kẻ trực tiếp ra tay.

Thằng Tí dắt vào lưng quần sợi dây thun, nhổ bãi nước bọt vào hai lòng bàn tay xoa xoa, rồi thoăn thoắt leo lên cây ổi sát bờ rào, từ đó đu người vắt vẻo sang nhánh xoài sà ra thấp nhất. Động tác của nó uyển chuyển như một con voọc, cái bụng tròn vo dường như chẳng hề làm khó nó chút nào.

Không gian buổi trưa im ắng đến rợn người. Chỉ có tiếng lá khô lạo xạo dưới chân tôi và tiếng thở khò khè của con Mực. Tôi nép mình sau bụi chuối, mắt đảo như rang lạc ra phía con đường đất đỏ.

– Trúng mánh rồi mày ơi! – Tiếng thằng Tí vọng xuống từ vòm lá, nghe nghèn nghẹt vì nó đang ngậm cái cuống xoài.

Tôi ngước lên. Thấp thoáng giữa tán lá xanh um, cái quần đùi hoa của thằng Tí đang nhấp nhô. Những quả xoài căng mọng đang lần lượt "nhảy dù" xuống vạt cỏ êm ái bên dưới mà thằng Tí đã tính toán sẵn. Một quả, hai quả, rồi ba quả...

Mọi chuyện lẽ ra đã êm đẹp như một giấc mơ trưa, nếu như không có sự xuất hiện của "kẻ thù không đội trời chung" của loài người: Kiến vàng.

– Á... Á... – Tiếng thằng Tí rít lên khe khẽ, nghe như tiếng ấm nước sôi bị nghẹt vòi.

– Sao vậy? – Tôi nói vọng lên, cố nén giọng thấp nhất có thể.

– Kiến! Tổ kiến vàng! Nó cắn mông tao! Ôi mẹ ơi...

Tôi nhìn lên, thấy thằng Tí đang giãy nảy trên cành cây như bị điện giật. Tay nó đang cố gãi mông, tay kia thì cố bám vào cành xoài trơn tuột. Và trong cái giây phút định mệnh ấy, một bi kịch đã xảy ra.

Do giãy giụa quá mạnh, chân thằng Tí đạp trúng một cành cây khô.

RẮC!

Âm thanh gãy vỡ vang lên giòn tan, xé toạc sự tĩnh lặng của buổi trưa hè. Nhưng kinh khủng hơn, cành cây khô đó rơi xuống, đập thẳng vào cái chuồng gà mái mơ đang ấp trứng ngay bên dưới.

QUÁC! QUÁC! QUÁC!

Con gà mái hoảng loạn bay tung lên, kêu quang quác như cháy nhà. Cả đàn gà con chiêm chiếp chạy tán loạn. Và như một hiệu ứng dây chuyền, con Mực – vốn đang nằm im phục kích – thấy gà bay loạn xạ thì bản năng trỗi dậy, nó quên béng nhiệm vụ "chim mồi", chồm lên sủa inh ỏi và lao vào... đuổi gà.

Khung cảnh hỗn loạn chưa từng thấy. Gà bay, chó sủa, và thằng Tí thì đang treo lủng lẳng trên cây như quả mít sắp rụng.

Và rồi, cái gì đến cũng phải đến. Từ phía sau nhà, một tiếng ho khù khụ vang lên, kèm theo tiếng dép lê loẹt quẹt nện xuống sân gạch đầy đe dọa.

– Đứa nào? Đứa nào phá cái gì ngoài đấy?

Chết cha! Lão Hạc! Lão không đi vắng! Lão chỉ đang ngủ trưa ở nhà sau thôi!

– Chạy! Chạy mau! – Tôi hét lên, quên cả giữ ý tứ.

Thằng Tí trên cây hoảng hồn, buông tay tụt xuống. May thay hoặc xui thay, nó không rơi xuống đất mà rơi trúng ngay đống rơm khô lão Hạc vun cao ngất để dành cho bò ăn.

BỤP!

Bụi rơm bay mù mịt. Thằng Tí lồm cồm bò dậy, đầu tóc dính đầy rơm rạ, trông không khác gì một con bù nhìn di động. Mặt nó cắt không còn hột máu, một tay ôm mông - chắc vẫn còn kiến, tay kia vơ vội hai quả xoài rơi dưới đất.

– Mực! Về!

Hai thằng tôi và con chó phóng vọt qua lỗ hổng hàng rào mà chúng tôi đã "nghiên cứu" từ trước. Tôi nghe tiếng lão Hạc quát tháo ầm ĩ phía sau, tiếng cây gậy tre quật chan chát vào bụi chuối để dọa.

Chúng tôi cắm đầu cắm cổ chạy. Chạy qua cánh đồng, chạy qua bãi tha ma, chạy cho đến khi phổi nóng ran như hít phải lửa và chân mỏi nhừ mới dám dừng lại ở bờ sông.

Thằng Tí nằm vật ra cỏ, thở hổn hển. Hai quả xoài vẫn được nó ôm khư khư trong lòng như báu vật, dù vỏ đã trầy xước nát bươm.

Tôi nhìn nó. Tóc tai bù xù, mặt mũi lem luốc, cái quần đùi hoa bị rách một mảng to ngay mông, lộ ra vết đỏ ửng do kiến cắn. Rồi tôi nhìn sang con Mực, mồm nó ngậm... một cái lông gà.

Bỗng nhiên, tôi phì cười. Rồi thằng Tí cũng cười. Hai đứa cười sằng sặc, cười chảy cả nước mắt, cười rung cả bụng. Tiếng cười lấp đầy khoảng trống sợ hãi ban nãy.

– Mất... mất một chiếc dép rồi. – Thằng Tí vừa cười vừa giơ cái chân trần đen nhẻm lên.

Chiếc dép nhựa Tiền Phong màu xanh của nó đã vĩnh viễn nằm lại nơi "chiến trường" nhà lão Hạc, trở thành tang vật không thể chối cãi cho vụ trộm chấn động này.

Chúng tôi chia nhau hai quả xoài chua lè, hóa ra chưa chín hẳn, chấm với chút muối ớt còn sót lại trong túi áo tôi. Vị chua, vị cay, vị mặn, và cả vị ngọt của sự tự do hòa quyện vào nhau.

Lúc đó tôi chưa biết rằng, chiếc dép bỏ lại vườn nhà lão Hạc không chỉ là một vật chứng. Nó là dấu chấm hết cho những ngày tháng chúng tôi có thể đi ngang qua nhà lão mà không cúi gằm mặt xuống.

Và tin đồn về "băng cướp quần đùi hoa" bắt đầu lan truyền khắp xóm Chùa ngay chiều hôm ấy, mở màn cho những ngày hè sóng gió tơi bời của chúng tôi.

Vậy là vụ trộm đã thành công một nửa nhưng hậu quả thì còn dài.

Ăn xong hai quả xoài xanh, dũng khí của thằng Tí cũng theo mấy cái hột xoài trơn tuột mà trôi xuống sông. Nó ngồi bó gối trên bờ cỏ, mặt méo xệch như cái bánh đa nhúng nước, mắt chăm chăm nhìn xuống bàn chân trái đang trần trụi dính đầy đất đỏ.

– Toi rồi mày ơi. – Nó rên rỉ. – Đôi dép này mẹ tao mới mua hôm Tết. Mất một chiếc thì cũng coi như mất cả đôi. Về nhà thế nào tao cũng bị ăn "lươn xào roi mây".

Tôi nuốt nước bọt, cảm thấy cái mông mình cũng bắt đầu đau lây, dù tôi vẫn còn đủ cả hai chiếc dép. Trong cái xóm này, hình phạt của phụ huynh luôn là một thứ quyền lực tối thượng và đáng sợ hơn cả ma quỷ.

– Hay là mày nói... bị rớt xuống sông? – Tôi hiến kế, dù biết cái lý do này nghe lọt tai cũng khó.

– Mày điên à? Rớt xuống sông thì phải rớt cả đôi chứ ai rớt một chiếc? Với lại mẹ tao biết thừa tao không dám xuống sông tắm giờ này.

Thằng Tí vò đầu bứt tai. Nắng chiều bắt đầu nhạt dần, nhuộm tím những bông lục bình trôi lững lờ. Tiếng bìm bịp kêu chiều "bịp... bịp..." nghe não nùng như tiếng kèn đám ma đưa tiễn cái mông sắp nở hoa của thằng Tí.

Bỗng nhiên, mắt thằng Tí sáng lên. Cái kiểu sáng lên đầy nguy hiểm mà tôi đã quá quen thuộc. Nó đứng phắt dậy, phủi cái quần đùi hoa rách te tua, ưỡn ngực ra vẻ oai phong lẫm liệt dù cái mặt vẫn còn lem luốc nhọ nồi.

– Không được ngồi chờ chết! – Nó tuyên bố hùng hồn. – Chúng ta là nam nhi đại trượng phu. Đã làm thì phải chịu... à không, đã làm thì phải đi xóa dấu vết!

– Mày định làm gì? – Tôi lùi lại một bước, linh tính mách bảo chuyện chẳng lành.

– Quay lại đó! – Nó chỉ tay về hướng nhà lão Hạc. – Chúng ta sẽ đột nhập vào sào huyệt địch để giải cứu "binh nhì" Dép Nhựa!

Tôi há hốc mồm. Quay lại cái nơi mà lão Hạc đang cầm gậy tre tuần tra ư? Đó là tự sát!

Nhưng thằng Tí không cho tôi cơ hội từ chối. Nó bẻ hai cành cây dương xỉ, cắm lên đầu làm mũ ngụy trang trông giống hai con dế mèn hơn là lính đặc công, rồi nhặt một khúc củi khô đưa cho tôi làm kiếm.

– Nghe đây! – Tí hạ giọng, nghiêm trọng hóa vấn đề. – Từ giờ phút này, chúng ta không phải là hai thằng trộm xoài nữa. Chúng ta là "Hiệp sĩ Xóm Chùa". Sứ mệnh của hiệp sĩ là không bỏ rơi đồng đội, dù đồng đội đó chỉ là một chiếc dép.

Nó quay sang con Mực:

– Mày là Thần Khuyển, nhiệm vụ của mày là đánh hơi. Cấm sủa bậy, rõ chưa?

Con Mực vẫy đuôi cái "bộp", vẻ mặt hớn hở như thể nó vừa được phong tước Hiệp sĩ thật.

Thế là dưới ánh hoàng hôn chập choạng, một đoàn quân kỳ dị bắt đầu xuất phát. Dẫn đầu là một thằng nhóc đi chân chấm phẩy (một bên có dép, một bên không), đầu cắm lá cây, tay cầm cành củi mục. Theo sau là một thằng gầy nhom đang run như cầy sấy, và chốt đuôi là con chó đen thui đang tò mò ngửi hít dọc đường.

Chúng tôi men theo bờ rào dâm bụt, rón rén từng bước một như những con mèo hoang. Tim tôi đập thình thịch, mỗi tiếng lá khô vỡ vụn dưới chân cũng làm tôi giật thót mình.

Đến gần chỗ lỗ hổng hàng rào, thằng Tí ra hiệu dừng lại. Nó nằm rạp xuống cỏ, bò trườn tới sát mép rào, nhòm vào bên trong. Tôi cũng bắt chước làm theo, dù đầu gối bị gai cỏ may đâm ngứa ran.

Khu vườn vắng lặng. Đống rơm nơi thằng Tí ngã hồi trưa vẫn còn đó, lù lù như một nấm mồ khổng lồ. Vài con gà đang bới đất tìm mồi trước khi lên chuồng.

– Thấy không? – Tôi thì thào vào tai Tí.

– Suỵt! – Nó gắt khẽ. – Tao đang tìm... Kia rồi!

Theo hướng tay chỉ của nó, tôi căng mắt nhìn. Dưới gốc cây xoài, lẫn trong đám lá khô, chiếc dép nhựa màu xanh nằm chỏng chơ, cô đơn và tội nghiệp. Nó nằm cách hàng rào chừng ba mét. Một khoảng cách quá gần, nhưng cũng xa vời vợi vì nằm trọn trong tầm mắt của cửa sổ nhà lão Hạc.

– Tao sẽ trườn vào lấy. Mày canh chừng cửa sổ. Nếu thấy bóng lão Hạc, mày giả tiếng mèo kêu "meo meo".

– Tao không biết kêu tiếng mèo, tao chỉ biết kêu tiếng ếch thôi.

– Thì kêu ộp ộp! Sao mày rắc rối thế!

Thằng Tí hít một hơi dài, bắt đầu luồn người qua lỗ hổng. Cái quần đùi rách của nó mắc vào gai tre, nhưng nó cắn răng chịu đựng, kiên cường trườn tới như một con sâu đo.

Một mét... Hai mét...

Tay thằng Tí đã sắp chạm vào chiếc dép. Tôi nín thở, tay nắm chặt khúc củi "kiếm thánh", mồ hôi ướt đẫm lưng áo.

Bỗng nhiên.

KÉT...

Cánh cửa sổ nhà lão Hạc rên rỉ mở ra. Một cái đầu bạc trắng với chòm râu thưa thớt thò ra ngoài. Lão Hạc!

Tôi hoảng quá, quên biến mất cái vụ "ộp ộp".

– Chạy Tí ơi!!! – Tôi hét toáng lên bằng giọng thật của mình.

Thằng Tí giật bắn người. Trong cơn hoảng loạn tột độ, thay vì chộp lấy chiếc dép rồi chạy, nó lại luống cuống đá văng chiếc dép đi xa hơn, rồi quay đầu phóng vọt ra ngoài hàng rào như một quả tên lửa.

– Đứng lại! Lũ ranh con!

Tiếng lão Hạc gầm lên như sấm động. Một cái gáo dừa bay vèo qua đầu tôi, đập vào bụi chuối cái "bốp".

Hai "hiệp sĩ" và một "thần khuyển" cắm đầu chạy thục mạng, bỏ lại sau lưng tiếng chửi bới vang rền của lão chủ vườn. Kế hoạch giải cứu binh nhì Dép Nhựa thất bại thảm hại.

Chúng tôi chạy một mạch về đến ngã ba cây đa đầu làng mới dám dừng lại. Thằng Tí dựa lưng vào gốc cây, thở không ra hơi, mặt mày tái mét.

– Mất... mất thật rồi mày ơi. – Nó lắp bắp. – Lần này thì lão Hạc biết đích danh thủ phạm rồi. Cái dép đó... có khắc tên tao.

– Hả? – Tôi trợn mắt.

– Mẹ tao... sợ tao làm lạc mất dép... nên hôm qua mới lấy dao khắc chữ "TÍ" to tướng dưới đế dép...

Tôi nghe như sét đánh ngang tai. Khắc tên vào dép? Một sự cẩn thận chết người! Vậy là không còn đường chối cãi. Vật chứng rành rành, lại còn có cả "chữ ký" của thủ phạm.

Trời tối hẳn. Đèn đường vàng vọt bắt đầu bật lên. Hai chàng hiệp sĩ nhìn nhau, thảm thương và tuyệt vọng. Chiến công không thấy đâu, chỉ thấy một tương lai đen tối đang chờ đợi phía trước cánh cổng nhà.

– Về thôi mày. – Tí nói, giọng buồn thiu như tiếng dế khóc. – Hiệp sĩ gì thì tối cũng phải về ăn cơm. Có chết cũng phải làm ma no.

Nó lê cái chân trần trên mặt đường đá dăm, bóng nó đổ dài xiêu vẹo dưới ánh đèn. Tôi đi bên cạnh, lòng nặng trĩu. Nhưng nhìn cái dáng đi tập tễnh và cái quần đùi rách tươm của nó, tôi chợt nhận ra một điều: Mùa hè năm nay chắc chắn sẽ là mùa hè đáng nhớ nhất, bắt đầu từ một chiếc dép có khắc tên.

Và cơn bão thực sự, bây giờ mới bắt đầu nổi lên trong những nếp nhà yên ả kia.

Trên đường về, thằng Tí đi cà nhắc, cái dáng điệu thiểu não như một con cò bị gãy cánh. Bỗng nhiên nó dừng lại trước cổng nhà bà Tư "Lùn".

Bà Tư "Lùn" là một huyền thoại khác của xóm Chùa, nhưng ở thái cực đối lập hoàn toàn với lão Hạc. Nếu lão Hạc ồn ào, hung dữ như lửa, thì bà Tư lại im lìm, lạnh lẽo như tảng đá dưới giếng sâu. Bà sống một mình trong ngôi nhà gỗ mít đen sì, quanh năm đóng kín cửa. Người ta đồn bà nuôi một con mèo đen có đôi mắt màu hổ phách nhìn thấu tâm can người đối diện, và bà ghét nhất là tiếng ồn.

Nhưng bi kịch thay, ngay sát bờ tường rêu phong của nhà bà lại mọc một cây ổi xá lị. Cây ổi này trái không nhiều, nhưng trái nào cũng to bằng cái bát ăn cơm, da láng bóng, ruột đỏ au và ngọt lịm. Lũ trẻ trong xóm gọi đó là cây ổi "cấm kỵ", vì chưa đứa nào dám bén mảng tới gần.

– Tao nghĩ ra cách rồi! – Thằng Tí đột nhiên thì thào, mắt sáng lên trong bóng tối.

– Cách gì? Cách trốn đòn hả? – Tôi hỏi đầy hy vọng.

– Không. Cách làm giảm nhẹ hình phạt. – Nó nuốt nước bọt cái "ực". – Mẹ tao thích ăn ổi xá lị lắm. Nếu bây giờ tao mang về cho mẹ mấy trái ổi cấm kỵ này, biết đâu mẹ vui, mẹ sẽ đổi từ roi mây sang... chổi lông gà. Roi mây thì tóe máu, chứ chổi lông gà thì chỉ rát chút thôi.

Tôi nhìn nó trân trối. Cái lý luận của nó nghe vừa có lý, lại vừa liều mạng hết chỗ nói. Lấy trộm đồ để hối lộ quan tòa? Chỉ có thằng Tí mới nghĩ ra.

– Nhưng đó là nhà bà Tư... – Tôi ngần ngại.

– Bà Tư bị lãng tai, lại mắt kém. Giờ này bà tụng kinh rồi. Nhanh lên, "được ăn cả, ngã về không"!

Thế là, hai thằng nhóc vừa thoát chết ở hang hùm (nhà lão Hạc), lại chui đầu vào hang rắn.

Chúng tôi trèo lên bờ tường. Cây ổi xòa tán ra sát đường, những quả ổi đung đưa trong gió đêm như những chiếc đèn lồng mờ ảo. Mùi ổi chín thơm nức mũi, lấn át cả mùi sợ hãi.

Thằng Tí, với bản năng leo trèo thượng thừa, lại một lần nữa vắt vẻo trên cành. Lần này nó hành động nhẹ nhàng hơn hẳn, không một tiếng động, êm như một con thạch sùng.

Nó hái được một quả. Rồi hai quả. Nó ném xuống cho tôi đỡ.

Quả ổi nằm trong tay tôi mát lạnh, nặng trịch. Tôi chưa kịp mừng thầm thì...

MEOOO...

Một tiếng kêu sắc lạnh vang lên ngay trên đầu tôi. Con mèo đen của bà Tư! Nó đang ngồi trên đỉnh cột cổng, đôi mắt vàng rực nhìn tôi chằm chằm như quan tòa phán xét.

Tôi giật mình, lùi lại, vô tình đạp phải một đống ngói vỡ dưới chân tường.

XOẢNG!

Âm thanh vỡ vụn vang lên chát chúa trong đêm thanh vắng. Thằng Tí trên cây cứng đờ người. Tôi đứng như trời trồng.

Cánh cửa gỗ mít kẽo kẹt mở ra. Một bóng người nhỏ thó, lưng còng rạp xuống bước ra hiên. Trên tay bà Tư là cây đèn dầu leo lét.

– Ai đấy? – Giọng bà khàn đặc, nghe như tiếng gió lùa qua khe cửa hẹp.

Chúng tôi không dám thở mạnh. Chạy ư? Chân tôi như đeo đá.

Bà Tư giơ cao ngọn đèn, bước lập cập về phía gốc ổi. Ánh sáng vàng vọt hắt lên khuôn mặt nhăn nheo như quả táo tàu khô của bà. Bà ngước mắt lên, nhìn thẳng vào chỗ thằng Tí đang trốn sau vòm lá.

Tôi nhắm tịt mắt lại, chờ đợi một tiếng thét, hoặc một xô nước lạnh tạt vào mặt.

Nhưng không.

– Xuống đi con. – Giọng bà Tư bỗng nhiên nhẹ bẫng, không có chút gì giận dữ. – Cành đó mục rồi, trèo ra xa nữa là gãy đấy.

Thằng Tí run rẩy tụt xuống đất. Nó cúi gằm mặt, hai tay xoắn vào nhau, chuẩn bị tinh thần nghe mắng.

Bà Tư soi đèn vào mặt nó, rồi soi sang tôi. Bà nhìn hai trái ổi trên tay tôi, rồi nhìn bộ dạng lem luốc, rách rưới của hai thằng.

Bất chợt, bà thở dài. Một tiếng thở dài nghe buồn thiu, buồn hơn cả tiếng lá rơi mùa thu.

– Lấy về cho ai ăn? – Bà hỏi.

– Dạ... cho mẹ con. – Thằng Tí lí nhí. – Con... con xin lỗi bà.

Bà Tư im lặng một lúc lâu. Lâu đến mức tôi tưởng thời gian đã ngừng trôi. Rồi bà lập cập quay vào nhà, lát sau trở ra với một cái rổ tre nhỏ. Bà đưa tay lên cây, hái thêm ba bốn trái ổi to nhất, đẹp nhất, bỏ vào rổ.

– Cầm lấy. – Bà dúi cái rổ vào tay thằng Tí. – Mang về cho mẹ. Mẹ mày ngày xưa cũng hay sang đây xin ổi bà lắm.

Chúng tôi ngơ ngác. Bà Tư "Lùn" khó tính, bà Tư ghét trẻ con đây sao?

– Sao bà... không mắng tụi con? – Thằng Tí đánh bạo hỏi.

Bà Tư móm mém cười, nụ cười hiếm hoi làm giãn những nếp nhăn trên mặt bà:

– Nhà có mỗi cây ổi, mà chả có ai ăn. Con cháu đi xa hết cả rồi. Để rụng cũng phí. Thi thoảng có tiếng động... cũng đỡ buồn.

Bà xua tay đuổi chúng tôi đi:

– Thôi về đi kẻo muộn. Lần sau muốn ăn thì vào gọi cửa xin bà, đừng trèo leo ngã gãy chân lại khổ bố mẹ.

Hai đứa tôi lí nhí cảm ơn rồi chuồn lẹ ra khỏi cổng.

Đi được một đoạn xa, tôi quay đầu nhìn lại. Ngôi nhà gỗ mít vẫn chìm trong bóng tối u tịch, chỉ có đốm sáng đèn dầu leo lét nơi hiên nhà. Tự nhiên tôi thấy sống mũi cay cay.

Hóa ra, sự "khó tính" của người già đôi khi chỉ là lớp vỏ bọc xù xì của nỗi cô đơn. Cây ổi "cấm kỵ" kia không được canh giữ bởi quỷ dữ, mà được canh giữ bởi những hoài niệm về những đứa con đã đi xa.

Thằng Tí ôm rổ ổi trước ngực, bước đi khập khiễng nhưng có vẻ vững chãi hơn.

– Mày nghĩ... rổ ổi này có cứu được cái mông tao không? – Nó hỏi.

– Tao không biết. – Tôi thật thà đáp. – Nhưng tao nghĩ mẹ mày sẽ khóc khi ăn ổi đấy.

– Tại sao?

– Tại vì ổi ngon. Và tại vì bà Tư nhớ mẹ mày.

Đêm hôm đó, xóm Chùa chìm vào giấc ngủ yên bình. Nhưng ở hai ngôi nhà cách nhau một con ngõ, có hai đứa trẻ nằm sấp vì mông đau, lòng thao thức nghĩ về những trái ổi và những chiếc dép bị bỏ quên.

Chào bạn, lại là tôi, người kể chuyện của những ngày xưa cũ đây.

Mùa hè năm ấy không chỉ có những buổi trưa trốn ngủ đi phá làng phá xóm, mà còn có một chiến trường khốc liệt không kém nằm ngay trong lớp học 5C. Nơi đó, phấn trắng không chỉ để viết bảng, mà là vũ khí để vạch ra biên giới lãnh thổ.

Nếu ai đó hỏi tôi thứ gì khó hiểu nhất trên đời, tôi sẽ không ngần ngại trả lời ngay: Đó là con gái.

Cụ thể hơn là phe "Tóc bím" trong lớp 5C của tôi.

Lớp học của chúng tôi, về cơ bản, được chia thành hai thế giới riêng biệt. Một bên là phe "Đầu đinh" – gồm tôi, thằng Tí sún và đám con trai nghịch như quỷ sứ, quanh năm hôi rình mùi mồ hôi và mực tím. Bên kia là phe "Tóc bím" – gồm những sinh vật lạ lùng luôn thơm mùi xà phòng, vở sạch chữ đẹp và sở hữu vũ khí tối thượng: mách lẻo.

Cuộc chiến bắt đầu từ một đường phấn trắng.

Trên cái bàn gỗ cũ kỹ chi chít vết dao khắc tên các thế hệ học trò đi trước, bao giờ cũng tồn tại một "đường biên giới" vô hình nhưng bất khả xâm phạm. Đó là đường kẻ chia đôi mặt bàn. Bên này là "giang sơn" của tôi, bên kia là "lãnh thổ" của con nhỏ Duyên.

Duyên là một đứa con gái điển hình của phe Tóc bím: tóc tết hai bên buộc nơ hồng, mắt to tròn và đặc biệt rất hay lườm. Luật lệ của nó rất đơn giản: Hễ khuỷu tay thằng nào thò qua vạch phấn, thằng đó sẽ lãnh một cú nhéo tím thịt.

Tôi là nạn nhân thường xuyên của cái luật lệ hà khắc đó.

– Á! – Tôi giật nảy mình, xoa xoa bắp tay đau điếng. – Mày làm cái gì vậy?

– Mày lấn sân. – Duyên nói tỉnh bơ, mắt vẫn dán vào quyển Tập làm văn, tay cầm thước kẻ gõ gõ xuống vạch phấn như một viên cai ngục đang thị uy.

– Cái bàn này chật ních, tao ngồi thế nào được mà không lấn? – Tôi gân cổ lên cãi.

– Đó là việc của mày. Lấn nữa là tao méc cô.

Cái câu "méc cô" nó có sức sát thương ghê gớm, khiến mọi thằng con trai dù đầu gấu đến mấy cũng phải xẹp như gián đất. Tôi hậm hực thu tay về, trong lòng nung nấu ý định trả thù.

Nhưng kẻ phát động "Chiến tranh thế giới thứ ba" hôm đó không phải là tôi, mà là thằng Tí sún.

Sáng hôm đó, thằng Tí đi học với cái mông vẫn còn ê ẩm sau vụ kiến đốt và trận đòn nhẹ của mẹ nhờ rổ ổi hối lộ. Vì không ngồi yên được, nó cứ ngọ nguậy, xoay trái xoay phải như con sâu đo, làm rung rinh cả cái bàn của con Thùy lớp trưởng ngồi ngay phía sau.

Thùy lớp trưởng là "Nữ hoàng" của phe Tóc bím. Nó nghiêm khắc, khó tính và sở hữu quyển sổ "Nam Tào" ghi chép tội lỗi của tất cả tụi con trai.

– Tí! Ngồi im coi! Làm sao tao viết bài được! – Thùy rít lên, lấy bút bi chọc vào lưng thằng Tí.

– Đau tao! – Tí quay lại, nhe cái răng sún ra dọa. – Mày chọc nữa tao cột tóc mày vô ghế bây giờ!

– Mày ngon mày làm thử coi! Tao ghi tên mày vô sổ đầu bài tội mất trật tự!

Lời thách thức đó đã châm ngòi cho quả bom nổ chậm. Giờ ra chơi, thằng Tí tập hợp "bộ sậu" Đầu đinh lại ở góc lớp, thì thầm to nhỏ. Một kế hoạch tác chiến được vạch ra mang tên: Chiến dịch Con Cóc.

Thằng Tí, với tài năng bắt cóc điêu luyện, đã lôi từ trong túi áo ra một con cóc da sần sùi mà nó bắt được tối qua ở bờ ao.

– Tao sẽ bỏ vào hộc bàn con Thùy. – Tí cười hí hửng. – Cho nó chừa cái thói hách dịch.

Tôi hơi ngần ngại:

– Lỡ nó khóc thì sao?

– Con gái mà, không khóc mới lạ. Phải cho tụi nó biết sợ uy quyền của phe Đầu đinh chứ!

Kế hoạch được thực thi chớp nhoáng khi phe Tóc bím đang mải chơi nhảy dây ngoài sân. Con cóc được an vị trong hộc bàn ngăn nắp của lớp trưởng, nằm chễm chệ trên chồng sách giáo khoa bọc bìa ni-lon bóng loáng.

Tiếng trống vào lớp vang lên. Không khí trong lớp căng thẳng như dây đàn. Tôi nín thở, mắt liếc xéo về phía bàn dưới.

Thùy bước vào, mồ hôi lấm tấm trên trán, hai cái bím tóc lắc lư. Nó ngồi xuống, với tay vào hộc bàn để lấy sách Toán.

Cả đám con trai nín thở chờ đợi một tiếng thét thất thanh.

Nhưng không.

Thùy rút tay ra. Trên tay nó không phải là sách Toán, mà là... con cóc.

Thay vì hét lên và nhảy dựng như trong kịch bản của thằng Tí, Thùy bình thản cầm con cóc lên, ngắm nghía nó bằng đôi mắt to tròn đen láy. Nó quay sang con bạn bên cạnh:

– Ê Lan, con này mắt lồi ghê hén. Giống thằng Tí ghê.

Cả lớp cười ồ lên. Thằng Tí quê độ, mặt đỏ bừng như gấc chín.

Thùy đứng dậy, đi thẳng lên bục giảng, thả con cóc ra ngoài cửa sổ một cách nhẹ nhàng, rồi quay xuống nhìn thằng Tí, phán một câu xanh rờn:

– Lần sau muốn tặng quà thì gói giấy đàng hoàng nha Tí. Cóc xấu quá, tao không nhận đâu.

Phe Đầu đinh thua trắng bụng. Sự thất bại ê chề này khiến chúng tôi nhận ra một chân lý đau đớn: Con gái không yếu đuối như mình tưởng.

Nhưng cuộc chiến chưa dừng lại ở đó. Buổi chiều hôm ấy, một sự cố khác xảy ra, lần này là giữa tôi và Duyên.

Trong giờ mỹ thuật, khi đang loay hoay pha màu nước, tôi lỡ tay - thật sự là lỡ tay, gạt đổ lọ mực tím của mình. Dòng mực loang nhanh như một con quái vật màu tím, tràn qua vạch phấn biên giới, chảy lênh láng sang phần bàn của Duyên và... nhuộm tím một góc chiếc áo trắng tinh khôi của nó.

Tôi chết sững.

Duyên nhìn vệt mực loang lổ trên áo. Môi nó bắt đầu mếu xệch. Mắt nó đỏ hoe. Rồi nó gục xuống bàn, khóc nức nở.

Lần này thì không ai cười. Thằng Tí cũng im bặt. Tiếng khóc của con gái là một thứ âm thanh có khả năng làm tê liệt mọi hệ thần kinh vận động của con trai.

Tôi luống cuống:

– Tao... tao xin lỗi. Tao lỡ tay... Tao sẽ giặt cho mày...

Duyên không ngẩng đầu lên, đôi vai gầy guộc của nó rung lên bần bật.

Cô giáo bước xuống. Tôi cúi gằm mặt, chuẩn bị tinh thần đón nhận hình phạt nặng nhất. Nhưng lạ thay, trong tiếng nấc, Duyên nói:

– Thưa cô... con lỡ làm đổ mực...

Tôi ngẩng phắt lên, nhìn nó sững sờ. Tại sao nó không méc? Tại sao nó lại nhận lỗi thay tôi – kẻ thù bên kia vạch phấn?

Tan học, tôi lẽo đẽo đi theo Duyên ra cổng trường.

– Này... – Tôi lí nhí.

Duyên quay lại, mắt vẫn còn đỏ, nhưng nụ cười đã trở lại trên môi, dù hơi gượng gạo:

– Gì? Định xâm lăng nữa hả?

– Tại sao... mày không méc cô?

Duyên vuốt lại cái bím tóc, nhún vai ra vẻ người lớn:

– Tại tao thấy mặt mày lúc đó... xanh như đít nhái. Nhìn tội nghiệp. Với lại, mẹ tao bảo quân tử không chấp kẻ tiểu nhân.

Nói rồi nó chạy vụt đi, để lại tôi đứng ngẩn ngơ giữa sân trường đầy nắng và lá me bay.

Lần đầu tiên trong đời, tôi cảm thấy cái vạch phấn trên bàn học thật vô nghĩa. Và tôi lờ mờ nhận ra, phe "Tóc bím" không chỉ có mách lẻo và khó hiểu. Họ còn có một trái tim bao dung lạ lùng – thứ mà đám con trai "Đầu đinh" ngốc nghếch chúng tôi phải mất rất nhiều mùa hè nữa mới thực sự hiểu được.

Hôm sau, tôi lén lau sạch cái vạch phấn chia bàn. Duyên thấy, nó không nói gì, chỉ lẳng lặng đẩy lọ mực của nó ra giữa bàn, dùng chung cho cả hai đứa.

Một hiệp ước hòa bình được ký kết trong im lặng. Nhưng tôi biết, đây chỉ là sự bình yên trước khi những cơn bão lòng lớn hơn ập đến, khi chúng tôi bắt đầu lớn lên và những rung động không còn đơn giản là chuyện mực tím hay con cóc nữa.

Cây bàng vuông đầu xóm Chùa già lắm rồi.

Bố tôi bảo từ hồi bố còn cởi truồng tắm mưa, cây bàng đã đứng đó. Gốc nó xù xì, to đến mức ba đứa trẻ nối tay nhau ôm không xuể. Rễ cây trồi lên mặt đất, ngoằn ngoèo như những con trăn khổng lồ đang ngủ say. Vào những buổi trưa hè, tán lá của nó xòe rộng như một cái ô xanh khổng lồ, che mát cả một khoảng đất rộng, là nơi trú ẩn lý tưởng của những "kẻ trốn ngủ".

Nhưng với bộ tứ chúng tôi - lần này đã kết nạp thêm Duyên "tóc bím" sau hiệp ước hòa bình lọ mực, cây bàng vuông không chỉ là cái ô. Nó là một "ngân hàng ký ức".

Ý tưởng này, dĩ nhiên, lại xuất phát từ cái đầu đầy sạn của thằng Tí.

Chiều hôm ấy, trời mưa tầm tã. Chúng tôi trú mưa dưới hốc cây bàng. Mưa trút xuống mái lá rào rào, tạo nên một bức màn trắng xóa ngăn cách thế giới của tụi tôi với thế giới người lớn bận rộn bên ngoài.

– Tụi mày có sợ bị quên lãng không? – Thằng Tí đột nhiên hỏi, tay mân mê hòn bi ve ngũ sắc.

– Quên lãng là sao? – Tôi ngơ ngác.

– Là sau này, khi tụi mình già đi, rụng hết răng như bà Tư, hoặc đi xa tít mù tắp, người ta sẽ không còn nhớ là đã từng có tụi mình ngồi ở đây nữa. – Tí nói, giọng trầm trọng như một triết gia sún răng.

Duyên vuốt ve con Mực đang nằm cuộn tròn tránh rét, khẽ nói:

– Thì ai mà chẳng phải lớn lên.

– Nhưng tao không muốn biến mất! – Tí quả quyết. – Tao xem phim, thấy mấy ông cướp biển hay chôn kho báu. Hàng trăm năm sau người ta đào lên và trầm trồ. Tụi mình cũng phải làm thế. Chúng ta phải chôn một "Chiếc hộp thời gian".

– Chôn cái gì? – Tôi hỏi. – Tao làm gì có vàng ngọc châu báu.

– Chôn những gì quý giá nhất của tụi mình bây giờ. – Mắt Tí sáng rực lên. – Để 50 năm sau, khi tụi mình thành mấy ông già bà già lụ khụ, tụi mình sẽ quay lại đây, đào nó lên và nhớ ra rằng mình đã từng oách xà lách thế nào!

Ý tưởng điên rồ đó ngay lập tức được thông qua với 100% phiếu thuận - kể cả cái vẫy đuôi của con Mực.

Ngày hôm sau, "Chiếc hộp thời gian" xuất hiện. Đó thực ra là một cái vỏ hộp bánh quy bằng thiếc gỉ sét mà thằng Tí moi được trong đống phế liệu nhà nó. Chúng tôi trịnh trọng lau sạch, lót vào bên trong một lớp bông gòn trắng muốt ăn trộm từ hộp y tế của trường.

Đến phần quan trọng nhất: Bỏ gì vào đó?

Thằng Tí, với vẻ mặt trang nghiêm như đang hiến dâng báu vật quốc gia, đặt vào hộp một chiếc ná thun.

– Đây là cái ná đã bắn rụng trái xoài cao nhất nhà lão Hạc. Chiến tích lẫy lừng đấy! – Nó tuyên bố.

Tôi đắn đo một hồi, rồi rút trong túi ra bức tranh vẽ dở. Trong tranh là ba đứa chúng tôi đang cưỡi trên lưng con Mực được vẽ to như con ngựa, bay trên mái nhà.

– Tao góp cái này. Để sau này nhớ là tụi mình từng muốn làm siêu nhân.

Đến lượt Duyên. Con nhỏ ngập ngừng, rồi tháo chiếc kẹp tóc hình con bướm màu xanh lơ đang kẹp trên mái tóc mây của nó, đặt nhẹ nhàng vào hộp.

– Cái kẹp này bố tao mua tặng sinh nhật năm ngoái. Bố bảo màu xanh là màu của hy vọng. Tao góp hy vọng cho tụi bây.

Tôi và thằng Tí nhìn nhau, nín lặng. Tự nhiên thấy cái hộp sắt gỉ sét này trở nên lấp lánh lạ thường.

– Còn con Mực nữa! – Tí nhắc.

Con Mực không có tài sản gì ngoài bộ lông đen và mấy con rận. Cuối cùng, chúng tôi quyết định bỏ vào đó một cái nắp chai bia – món đồ chơi gặm nhấm ưa thích nhất của nó.

Cái nắp hộp được đóng lại. Cạch. Tiếng kim loại va vào nhau nghe đanh gọn như một tiếng khóa chốt thời gian.

Chúng tôi chọn cái hốc rễ cây to nhất, khuất nhất phía sau lưng cây bàng vuông. Thằng Tí hì hục đào. Đất sau mưa mềm và thơm mùi rễ cây. Cái hố sâu dần, sâu dần, nuốt chửng lấy bí mật của ba đứa trẻ.

Khi lấp đất lại, thằng Tí bắt chúng tôi đặt tay chồng lên nhau trên mặt đất mới đắp.

– Xin thề! – Tí hô to.

– Xin thề! – Tôi và Duyên đồng thanh.

– Bất kể sau này đứa nào đi đâu, làm gì, giàu sang hay nghèo rớt mồng tơi, thì đúng 20 năm nữa, vào ngày này, phải quay về đây mở hộp. Đứa nào quên làm con chó con!

– Gâu! – Con Mực sủa một tiếng hưởng ứng, làm cả bọn phì cười.

Buổi chiều hôm đó, nắng hắt xuyên qua kẽ lá, vẽ những đốm sáng lung linh lên chỗ đất vừa lấp. Chúng tôi ngồi tựa lưng vào gốc cây, lòng nhẹ bẫng nhưng cũng đầy xao xuyến.

Chúng tôi tin rằng cái hộp đó sẽ nằm yên ở đấy mãi mãi. Chúng tôi tin rằng tình bạn này sẽ vững chãi như cây bàng già, không bão giông nào quật ngã được.

Lúc đó, tôi đâu biết rằng, cuộc đời không đơn giản như việc chôn một cái hộp xuống đất. Đất có thể giữ được hộp sắt, nhưng đất không giữ được bước chân người đi.

Chỉ vài tháng sau buổi chiều hôm ấy, một biến cố xảy ra đã bắt đầu làm lung lay thế giới nhỏ bé của chúng tôi, khiến lời thề dưới gốc cây bàng vuông trở thành một vết gợn day dứt suốt những năm tháng trưởng thành.

Nhưng đó là chuyện sau này. Còn bây giờ, dưới gốc cây bàng, bí mật vẫn được ngủ yên, ấp ủ những giấc mơ trong veo của một thời khờ dại.

Nếu có ai hỏi thứ gì nổi bật nhất ở xóm Chùa vào giữa tháng Sáu năm ấy, thì đó chắc chắn không phải là cây phượng vĩ đỏ rực đầu làng, mà là chiếc xe du lịch màu xanh dương đỗ xịch trước cửa nhà bà Ba "Béo".

Chiếc xe bóng loáng, phản chiếu ánh nắng chói chang, nằm chễm chệ giữa con đường đất bụi mù như một con bọ cánh cứng khổng lồ và sang trọng lạc vào thế giới của loài kiến. Lũ trẻ con trong xóm, dĩ nhiên là bao gồm cả bộ ba chúng tôi, bu lại xung quanh, mắt tròn mắt dẹt, tay sờ nắn cái vỏ xe mát lạnh như sờ vào da thịt người ngoài hành tinh.

– Ê mày, tao soi gương được nè! – Thằng Tí nhe răng cười vào cái cản xe mạ sáng loáng.

Nhưng điều kỳ lạ nhất không phải là chiếc xe, mà là "món quà" bước ra từ đó.

Cửa xe mở. Một mùi hương lạ lùng – mùi máy lạnh trộn lẫn với mùi nước hoa thơm phức – tỏa ra, lấn át cả mùi phân trâu nồng nàn quen thuộc. Một cô bé bước xuống.

Tôi thề là tôi chưa bao giờ thấy ai trắng như thế.

Nó trắng như trứng gà bóc, hay nói theo cách của thằng Tí là "trắng như cục bột mì chưa nướng". Nó trạc tuổi tụi tôi, nhưng nhìn nó nhỏ xíu, lọt thỏm trong chiếc váy đầm màu hồng có viền ren xếp tầng bồng bềnh như công chúa. Chân nó đi đôi giày búp bê đỏ chót, mang tất trắng cao đến tận đầu gối. Trên tay nó ôm một con búp bê tóc vàng, mắt xanh biếc, cũng mặc váy y chang nó.

– Trời đất! – Thằng Tí há hốc mồm, thì thào vào tai tôi. – Con người hay con búp bê biết đi vậy mày?

Con nhỏ đó đứng ngơ ngác giữa đám đông, tay ôm chặt con búp bê, đôi mắt to tròn nhìn quanh với vẻ sợ hãi và... ghê tởm. Đúng, là ghê tởm. Nó nhìn con đường đất đầy bụi đỏ, nhìn mấy vũng nước đọng, rồi nhìn xuống đôi giày đỏ của mình, mặt nhăn lại như khỉ ăn ớt.

– Tiểu Mai, vào nhà đi con! – Tiếng bà Ba "Béo" đon đả từ trong nhà vọng ra.

Hóa ra nó tên là Tiểu Mai. Cái tên nghe đã thấy yểu điệu thục nữ, chẳng có chút gì liên quan đến những cái tên "nồi đồng cối đá" như Tí, Dần, Mẹo hay Mực ở cái xóm này.

Sự xuất hiện của Tiểu Mai lập tức chia rẽ dư luận xóm Chùa. Người lớn thì xuýt xoa "con gái thành phố có khác, xinh như mộng", còn tụi con nít chúng tôi thì nhìn nó như sinh vật lạ cần được cách ly.

Chiều hôm đó, thay vì đi thả diều, bộ ba chúng tôi quyết định thực hiện nhiệm vụ trinh sát: Rình xem "con nhỏ thành phố" làm gì.

Nó ngồi trên chiếc chõng tre trước hiên nhà bà Ba. Nhưng thay vì ngồi bệt xuống như tụi tôi, nó lót một chiếc khăn tay trắng tinh rồi mới dám đặt cái mông quý tộc của nó xuống.

– Chảnh thấy ớn! – Duyên bĩu môi, cơn ghen tị của phe phái nữ bắt đầu nổi lên. – Làm như cái chõng có gai không bằng.

Thằng Tí thì ngứa mắt kiểu khác. Nó huýt sáo một cái rõ to. Con Mực hiểu ý, lao xổ ra, sủa "gâu gâu" hai tiếng để chào mừng khách phương xa.

Phản ứng của Tiểu Mai làm chúng tôi sững sờ.

Nó không bỏ chạy. Nó hét lên. Một tiếng hét cao vút, sắc nhọn như tiếng còi tàu hỏa, xé toạc không gian yên bình.

– Ááááá!!! Quái vật!!!

Nó nhảy phắt lên ghế, mặt cắt không còn giọt máu, tay chỉ vào con Mực đang vẫy đuôi thân thiện - theo cách của loài chó.

– Quái vật? – Tôi ngơ ngác. – Nó gọi con Mực là quái vật?

Bà Ba lật đật chạy ra, xua con Mực đi, rồi dỗ dành con nhỏ:

– Không sao đâu con, con chó quê ấy mà, nó hiền khô à.

– Nó đen thui! Nó dơ quá dì ơi! Hu hu... – Tiểu Mai khóc nức nở, nước mắt chảy lem cả hai má phấn hồng.

Ba đứa chúng tôi nấp sau bụi dâm bụt, nhìn nhau ngán ngẩm.

– Xong phim. – Thằng Tí kết luận xanh rờn. – Con nhỏ này bị "bệnh sạch sẽ". Loại này không chơi được đâu. Nó mà xuống ruộng chắc bùn không dám bám chân nó vì sợ bị nó mắng.

Tôi thì lại có suy nghĩ khác. Nhìn nó khóc, vai run lên trong chiếc váy bồng bềnh, tôi thấy nó giống một con chim hoàng yến bị nhốt lầm vào chuồng gà. Nó lạc lõng và yếu đuối kinh khủng. Tự nhiên tôi thấy... tò mò. Thế giới mà nó đến – cái nơi gọi là Thành Phố ấy – chắc chắn không có chó đen, không có bụi đường và không có những thằng con trai ở trần trùng trục như tụi tôi.

Nhưng đỉnh điểm của sự "kỳ lạ" diễn ra vào sáng hôm sau.

Tôi đi mua nước mắm cho mẹ, ngang qua nhà bà Ba thì thấy Tiểu Mai đang đứng thập thò ở cổng. Nó nhìn thấy tôi, mắt sáng lên một chút - chắc vì tôi là đứa trông sạch sẽ nhất trong đám trẻ ở đây.

– Này bạn ơi! – Giọng nó trong veo, lảnh lót nhưng vẫn có chút gì đó ra lệnh.

Tôi dừng lại, tim đập hơi nhanh một chút - chỉ một chút thôi.

– Gì?

– Bạn có biết... con bò sữa nó sống ở đâu không? – Nó hỏi, mắt chớp chớp.

– Bò sữa? – Tôi gãi đầu. – Ở đây làm gì có bò sữa. Chỉ có bò vàng kéo xe thôi.

Nó thất vọng ra mặt.

– Thế... bạn có biết chỗ nào bán "kem socola hạt dẻ" không?

Tôi đứng hình. Kem thì tôi biết, là mấy que kem đá ngọt lịm bác bán kem hay bóp kèn "bim bim" đi bán dạo. Nhưng "socola hạt dẻ" là cái quái gì? Nghe tên cứ như món ăn của vua chúa.

– Không có. – Tôi lắc đầu. – Chỉ có kem đậu xanh thôi. Ăn không?

Nó nhăn mặt lắc đầu nguầy nguậy:

– Thôi, sợ đau bụng lắm. Mẹ mình bảo đồ ăn ở quê không vệ sinh.

Câu nói đó như một gáo nước lạnh tạt vào mặt tôi. Tự ái quê hương trỗi dậy đùng đùng. Tôi quay ngoắt đi, bỏ mặc nó đứng đó với con búp bê vô tri.

– Đồ tiểu thư bột mì! – Tôi lầm bầm.

Nhưng tôi không biết rằng, cái con nhỏ "tiểu thư bột mì" đầy rắc rối và trịch thượng ấy, chính là mảnh ghép cuối cùng còn thiếu của mùa hè năm nay. Một mảnh ghép trái ngược hoàn toàn, nhưng lại có sức hút kỳ lạ, kéo chúng tôi vào những rắc rối dở khóc dở cười mà cả đời này tôi không bao giờ quên được.

Sự xuất hiện của Tiểu Mai là dấu hiệu báo trước: Mùa hè này sẽ không còn yên ả nữa. "Quán tạp hóa" của chúng tôi vừa nhập về một món hàng xa xỉ, đẹp mã nhưng dễ vỡ vô cùng.

Thằng Tí sún tuyên bố: "Nước sông không phạm nước giếng. Nhưng nước giếng mà chảnh chọe quá thì nước sông phải dạy cho một bài học."

Kế hoạch "dạy dỗ" Tiểu Mai được vạch ra dưới gốc cây bàng vuông, với sự tham gia miễn cưỡng của tôi và sự phản đối yếu ớt của Duyên.

– Tao thấy... kỳ kỳ sao á. – Duyên nhăn mặt. – Nó là con gái, lại là khách.

– Khách gì mà nhìn tụi mình như nhìn hủi. – Tí gạt phắt. – Sáng nay tao thấy nó đứng nhìn con heo nhà bà Ba ăn cám, nó bịt mũi rồi kêu "Eo ôi khiếp quá". Con heo ăn cám chứ có ăn thịt nó đâu mà khiếp? Phải cho nó nếm mùi quê hương mới được.

Vũ khí của thằng Tí không phải dao kiếm, mà là một sinh vật khiến bất kỳ đứa con gái nào cũng phải khóc thét: Một con sâu róm.

Đó là một con sâu róm ngũ sắc to bằng ngón tay cái, lông lá tua tủa, nhìn vừa đẹp lại vừa gớm ghiếc. Tí bắt nó trên cây ổi, nhốt cẩn thận trong cái vỏ bao diêm.

– Tao sẽ dọa nó một phen thôi. – Tí cười hề hề, nụ cười sún răng trông đầy vẻ gian manh. – Để xem lúc nó sợ, nó còn giữ cái vẻ mặt "tiểu thư bột mì" đó được không.

Buổi chiều, cơ hội ngàn vàng đã đến. Tiểu Mai bước ra khỏi cổng nhà bà Ba. Hôm nay nó mặc chiếc váy màu vàng chanh, tóc cài một chiếc băng đô trắng, tay vẫn ôm khư khư con búp bê mắt xanh. Nó đi dạo loanh quanh vệ đường, dáng đi rón rén như sợ dẫm phải mìn, mắt ngó nghiêng tìm hoa dại - nhưng chắc chắn là không dám hái vì sợ dơ tay.

Thằng Tí ra hiệu. Hai đứa tôi từ trong bụi dâm bụt nhảy bổ ra chặn đường.

– Ê! – Tí quát to.

Tiểu Mai giật bắn mình. Nó lùi lại hai bước, đôi mắt to tròn mở lớn, nhìn chúng tôi đầy cảnh giác.

– Các cậu... muốn gì?

– Muốn tặng bạn món quà "đặc sản" quê hương! – Tí hô lớn, rồi chìa cái hộp diêm ra trước mặt Tiểu Mai.

Không đợi nó trả lời, Tí bật nắp hộp.

Con sâu róm màu mè, lông lá ngoe nguẩy bò ra mép hộp, ngóc cái đầu lên chào hỏi.

Tôi đã tưởng tượng ra cảnh Tiểu Mai hét lên chói tai, vứt búp bê bỏ chạy thục mạng, còn tụi tôi sẽ cười lăn lộn.

Nhưng không. Sự việc diễn ra theo một kịch bản tồi tệ hơn nhiều.

Tiểu Mai không hét. Mặt nó tái mét đi, miệng há ra nhưng không thốt nên lời. Vì quá hoảng sợ, nó lùi lại một bước nữa. Nhưng nó quên mất rằng đằng sau lưng nó là cái mương thoát nước của ruộng rau muống.

ÙM!

Một tiếng động khô khốc vang lên. Cả người Tiểu Mai trượt chân, ngã ngửa ra sau, lọt thỏm xuống cái mương cạn đầy bùn đen nhão nhoét.

Tiếng cười đang chực chờ trào ra khỏi họng thằng Tí bỗng nghẹn ứ lại.

Chúng tôi chết sững.

Tiểu Mai lồm cồm bò dậy. Chiếc váy vàng chanh xinh đẹp giờ đây bê bết bùn đen. Cái băng đô trắng văng đâu mất. Khuôn mặt trắng trẻo lấm lem những vệt bùn dài. Và tệ hại nhất, con búp bê tóc vàng của nó nằm úp mặt xuống vũng bùn, trông thảm thương như một nạn nhân chết đuối.

Tiểu Mai nhìn xuống bộ váy, rồi nhìn con búp bê. Đôi vai nhỏ bé của nó bắt đầu run lên.

Và nó khóc.

Nếu nó gào lên ăn vạ, có lẽ chúng tôi đã bỏ chạy. Nhưng nó khóc không thành tiếng. Những giọt nước mắt to như hạt đậu cứ thế lăn dài trên má, rửa trôi những vệt bùn, tạo thành những dòng suối nhỏ ngoằn ngoèo trên khuôn mặt lấm lem. Nó cố gắng lau bùn trên mặt con búp bê, nhưng càng lau càng bẩn.

– Em Bông... Em Bông dơ hết rồi... – Nó nức nở, giọng nghẹn ngào nhỏ xíu.

Hình ảnh đó giáng một đòn mạnh vào lương tâm của thằng Tí và tôi. Tự nhiên, cái cảm giác hả hê của kẻ chiến thắng biến mất sạch trơn. Thay vào đó là một cảm giác tội lỗi đè nặng trĩu như đeo đá tảng.

Chúng tôi vừa làm cái gì thế này? Chúng tôi vừa đẩy một "thiên thần" xuống vũng bùn hôi hám. Trông nó lúc này không còn vẻ gì là "chảnh chọe" hay cao ngạo nữa. Nó chỉ là một đứa trẻ tội nghiệp, yếu đuối và cô độc giữa một đám người xa lạ và thù địch.

– Tí... – Tôi lắp bắp. – Làm sao giờ?

Thằng Tí đứng ngây ra, mặt nó nghệt đi. Tay nó vẫn cầm cái vỏ bao diêm, con sâu róm đã rơi đâu mất.

Bất ngờ, Duyên từ đâu chạy tới. Nó nhìn thấy cảnh tượng đó, quay sang lườm hai thằng tôi một cái sắc lẻm:

– Đồ ác độc!

Rồi Duyên nhảy xuống mương, không ngại bùn bẩn, đỡ Tiểu Mai dậy.

– Đưa tay đây. – Duyên nói nhẹ nhàng.

Tiểu Mai ngước đôi mắt đẫm lệ nhìn Duyên, rồi rụt rè đưa bàn tay lấm lem bùn ra.

Lúc Duyên dìu Tiểu Mai lên bờ cỏ, thằng Tí bỗng nhiên hành động. Nó quăng cái vỏ diêm đi, chạy vội tới bờ mương, cúi xuống nhặt con búp bê lên. Nó dùng vạt áo thun của mình – cái áo nó quý nhất có in hình Siêu nhân Gao – để lau bùn trên mặt, trên tóc con búp bê.

Nó lau lấy lau để, mồ hôi vã ra trên trán.

– Nè... – Tí chìa con búp bê ra trước mặt Tiểu Mai, giọng run run, không dám nhìn thẳng vào mắt con nhỏ. – Trả... trả bạn nè. Sạch rồi.

Tiểu Mai ôm chầm lấy con búp bê, ép chặt vào ngực, làm bùn dính lem nhem sang cả áo thằng Tí.

– Cảm ơn... – Nó lí nhí.

Thằng Tí gãi đầu, tai đỏ lựng lên:

– Xin lỗi... Tại tui... tui định giỡn chút thôi. Ai dè...

Tiểu Mai sụt sịt mũi, ngước nhìn thằng Tí, rồi nhìn tôi. Đôi mắt nó vẫn còn đọng nước, long lanh như hai hòn bi ve ngâm trong nước. Bỗng nhiên, nó mỉm cười. Một nụ cười méo xệch, lấm lem bùn đất, nhưng lạ lùng thay, đó là nụ cười đẹp nhất mà tôi từng thấy ở nó. Nó không còn là con búp bê sứ vô hồn trong tủ kính nữa.

– Tui... tui trông buồn cười lắm hả? – Nó hỏi.

Thằng Tí phì cười, tiếng gió rít qua kẽ răng sún:

– Ừ, y như con trâu đầm bùn.

Cả bốn đứa cùng bật cười. Tiếng cười vang lên giữa buổi chiều tà, xóa tan đi khoảng cách vô hình giữa "dân quê" và "dân phố".

Hóa ra, để bắt nạt một thiên thần, cách tốt nhất không phải là dùng sâu róm hay bùn đất. Cách tốt nhất là biến mình thành những kẻ ngốc nghếch để làm thiên thần cười.

Chiều hôm đó, có một đám diễu hành kỳ lạ đi dọc bờ đê về nhà bà Ba: Một cô bé váy vàng lấm lem bùn đất đi giữa, hai thằng con trai mặt mày hối lỗi đi hai bên, và một con nhỏ tóc bím đi sau cùng, vừa đi vừa lắc đầu ngán ngẩm nhưng miệng vẫn tủm tỉm cười.

Và đó là cách mà Tiểu Mai chính thức gia nhập vào băng nhóm "quái đản" của chúng tôi, bắt đầu những ngày tháng rực rỡ nhất của mùa hè năm ấy.

Mục LụcChương Sau →

Bình Luận (0)

Vui lòng Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận...