Bàn tay tôi chẳng mấy chốc đã phồng rộp.

Bọng nước vỡ ra, đóng thành vảy sừng.

Lớp chai cũ mòn đi, lớp chai mới lại đùn lên.

Tâm trí tôi cũng nương theo quá trình nhàm chán lặp đi lặp lại đó mà dần tĩnh lại.

Tôi không còn nghĩ về khối Kim Tơ Nam Mộc vô giá, chẳng màng đến phiên đấu giá ba tháng sau nữa.

Thế giới của tôi thu hẹp lại, chỉ còn tôi và cục đá trong tay.

Tôi có thể cảm nhận được thớ đá, độ cứng, và cả “tính nết” của nó.

Bình minh một tháng sau.

Khi tôi sực tỉnh khỏi trạng thái như nhập thiền, trong tay tôi đã có thêm một con dao đá đen nhánh, tỏa ra thứ ánh sáng u uẩn.

Hình dáng của nó nằm vừa khít trong lòng bàn tay tôi.

Lưỡi dao mỏng như cánh ve, sắc bén đến mức thổi đứt sợi tóc.

Tôi cầm nó, lướt nhẹ trên một mẩu gỗ thừa.

Không có một tiếng động.

Mẩu gỗ hệt như miếng đậu phụ, lặng lẽ bị cắt đôi.

Mặt cắt nhẵn thín như gương.

Tôi thành công rồi.

Tôi mang con dao đá tìm đến Ngô sư phụ.

Ông vẫn nằm ườn trên ghế, mắt nhắm nghiền.

“Mài xong rồi à?”

“Xong rồi ạ.”

“Ừm, cũng không đến nỗi ngốc.”

Ông móc trong ngực ra một bọc vải nhỏ xíu, ném cho tôi.

“Đây là Bách Thảo Sương.”

“Cách tôi thép, trong sổ tay của Lục ban phó có ghi.”

“Đi đi, tự đúc những con dao của riêng con.”

“Nhớ lấy, dao là phần nối dài của cánh tay, và cũng là phần nối dài của trái tim.”

“Tâm của con thế nào, dao của con sẽ như thế ấy.”

Tôi cầm gói Bách Thảo Sương và con dao đá quay về xưởng.

Theo phương pháp trong sổ, tôi xây một lò rèn nhỏ.

Dùng loại thép tinh luyện tốt nhất, tôi rèn đi rèn lại, đánh ra hình phôi dao.

Tiếp theo là bước quan trọng nhất: tôi thép.

Tôi hòa Bách Thảo Sương cùng hơn chục loại thảo mộc, đốt thành tro rồi hòa vào nước.

Khi phôi dao nung đỏ rực được cắm phập vào thứ nước thuốc đen ngòm kia, “xèo—”, một luồng khói trắng bốc lên, mang theo hương thơm kỳ lạ.

Tôi rèn tổng cộng 7 con dao.

Ứng với 7 vì sao trong chòm Bắc Đẩu.

Thiên Xu, Thiên Toàn, Thiên Cơ, Thiên Quyền, Ngọc Hoành, Khai Dương, Dao Quang.

Mỗi con dao mang một hình dáng và công năng khác biệt.

Khoảnh khắc nắm chúng trong tay, tôi cảm giác như chúng đã được thổi linh hồn.

Chúng khẽ rung lên trong lòng bàn tay tôi, như đang khát khao điều gì đó.

Tôi biết, chúng đang thèm khát khối thần mộc đang say ngủ kia.

Đã đến lúc rồi.

14

Tôi xếp ngay ngắn bảy con dao mới đúc lên bàn làm việc.

Dùng mảnh da nai mềm mại nhất, tôi lau đi lau lại từng chiếc một.

Chúng giống như những đứa con bé bỏng của tôi vậy.

Tôi có thể cảm nhận được mối liên kết kỳ diệu, như máu thịt liền khúc giữa tôi và chúng.

Trái tim tôi sục sôi hơn bao giờ hết.

Tôi hận không thể lao ngay đến khối Kim Tơ Nam Mộc kia, làm một trận ra trò.

Nhưng, ngay lúc tôi chuẩn bị phác họa đường nét đầu tiên, Ngô sư phụ lại như một bóng ma, xuất hiện thình lình ngay sau lưng tôi.

“Đợi đã.”

Chỉ hai chữ của ông thôi cũng đủ dội gáo nước lạnh, làm sự hưng phấn của tôi tắt ngấm.

“Sư phụ?” Tôi khó hiểu nhìn ông.

“Tâm quá vội, khí quá nổi.”

“Với tình trạng này, đừng nói là Đồ Long, đến chạm khắc một con rắn con cũng không xong đâu.”

Ông lượm một mẩu gỗ thông rẻ tiền nhất từ đống củi thừa, rồi lật một trang bản vẽ trong sổ tay ra.

Đó là một cấu trúc mộng gỗ cực kỳ phức tạp mang tên “Khóa Lỗ Ban”.

Cấu trúc này gồm 6 thanh gỗ, không dùng đinh cũng chẳng dùng keo, hoàn toàn dựa vào các mộng gỗ khớp với nhau để khóa chặt không một khe hở.

“Một tháng.”

“Dùng dao của con, làm ra cái này.”

“Nếu không làm được, khối Kim Tơ Nam Mộc kia con cũng đừng hòng đụng vào, ta sẽ trực tiếp chẻ nó ra làm củi đốt.”

Lại là “Một tháng”.

Lại là một mệnh lệnh không cho phép phản kháng.

Nhìn cái cấu trúc cài răng lược, phức tạp chẳng khác nào hình học không gian ba chiều kia, tôi thấy da đầu mình tê rần.

Nhưng tôi không hé răng cãi nửa lời.

Tôi vớ lấy mẩu thông và “Thiên Xu” – con dao chủ lực, bắt đầu một đợt tu luyện mới.

Lần này còn khó hơn cả mài dao đá.

Bởi nó không chỉ thử thách tính kiên nhẫn, mà còn đòi hỏi khả năng tính toán và lực tay chuẩn xác đến từng mili.

Sai một ly, đi một dặm.

Bất kỳ sai số nào về góc độ hay độ sâu cũng sẽ dẫn đến thất bại của toàn bộ cấu trúc.

Tuần đầu tiên, tôi chẳng làm được một thanh gỗ nào đạt chuẩn.

Không phải góc bị lệch thì lỗ mộng bị rộng quá.

Tôi đâm ra cáu bẳn, bắt đầu hoài nghi bản thân.

Đã không ít lần tôi muốn ném toẹt mẩu gỗ trong tay đi cho bõ tức.

Nhưng cứ mỗi lúc như vậy, câu hăm dọa “chẻ làm củi đốt” của Ngô sư phụ lại vang vọng bên tai.

Tôi không được phép thất bại.

Tôi hít sâu một hơi, ép mình phải bình tĩnh lại.

Tôi đọc lại sổ tay của Lục ban phó, nghiên cứu cách điều khiển lực đao của ông.

Tôi bắt đầu học cách dùng tâm để cảm nhận thớ gỗ, đưa đao nương theo “tính nết” của nó thay vì dùng sức mạnh thô bạo.

Bình Luận (0)

Vui lòng Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận...