“Lão bá trí nhớ thật tốt. Điệu hát cũ trong dân gian lưu truyền xa rộng, có lẽ Thẩm nương tử đã nghe qua, Uyển Thanh cũng từng nghe qua. Lễ hiến cung hôm nay vốn không phải để tranh ai trước ai sau, mà là nguyện sửa lại điệu cũ thành phổ mới để nhiều người nghe thấy hơn.”

Lời nói thật hoa mỹ.

Đem chữ “trộm” đổi thành “sửa”.

Đem cái tên của mẹ ta nhẹ nhàng xóa nhòa thành một câu “cũng từng nghe qua”.

Dưới đài có người dao động.

Con gái thế gia đứng trên đài cao, y phục sạch sẽ, giọng nói dịu dàng. Một vong phụ làm thuyền cung, một lão thuyền hộ giọng khàn đặc, nghe thế nào cũng không giống người có truyền thừa chính thống bằng nàng ta.

Ta không tranh luận khúc nhạc với nàng ta nữa.

Ta đi đến trước án hương, đưa tay mở hũ ruốc thịt đầu tiên.

Quản sự Lục gia lập tức ngăn lại một bước: “Thẩm Chiếu Ninh, cô còn định gây náo loạn đến bao giờ?”

Ta nhìn vị quan lại.

“Thuyền cung bày trong lễ hiến tế, có thể nghiệm không?”

Sắc mặt quan lại không được tốt lắm.

Bài hát của lão thuyền hộ họ Tần đã khiến tình cảnh khó cứu vãn, nhưng nếu đồ Lục gia bày ra mà không cho nghiệm, chẳng hóa ra là chột dạ.

Ông ta trầm giọng: “Nghiệm.”

Tay quản sự Lục gia khựng lại giữa không trung.

Ta gỡ lớp bùn niêm phong.

Lớp ruốc bên trên vàng óng tơi xốp, hương thơm ngào ngạt như vừa mới ra lò. Người vây xem nghển cổ, có kẻ nhỏ giọng: “Chẳng phải rất tốt sao?”

Ta không nói gì.

Thìa gỗ nhấn xuống.

Chỉ mới nhấn xuống nửa tấc, đầu thìa đã chạm phải một tảng ẩm bết dính.

Ta lật lớp ruốc bên dưới lên, trải ra đĩa sứ trắng. Lớp trên vàng óng, bên dưới xỉn màu, những chỗ đóng tảng còn loang loáng mỡ, dưới ánh mặt trời trước Thiên Phi cung, hơi ẩm không cách nào che giấu nổi.

Một quyến thuộc viễn dương bịt miệng: “Sao lại kết tảng thế này?”

Ta vê ra một chút, đưa đến trước mặt quan lại.

“Bề ngoài vàng óng, bên dưới ẩm kết. Đây không phải thuyền cung, đây là món đồ trưng bày cho quý nhân trên bờ xem thôi.”

Giọng Lục Uyển Thanh hơi căng thẳng: “Hôm nay hơi ẩm nặng, mở miệng hũ ra tất nhiên sẽ bị ẩm.”

Ta nhìn nàng ta: “Miệng hũ vừa mở, hơi ẩm lại sinh ra từ bên dưới sao?”

Khóe môi nàng ta khẽ động.

Ta bẻ tảng ruốc đó ra, bên trong đã bắt đầu có chút mùi chua. Rất nhạt, nhưng không giấu nổi người làm thuyền cung.

Trên thuyền viễn dương sợ nhất là loại tảng ẩm này.

Khoang thuyền hầm bí, người dạ dày yếu ăn vào nhẹ thì nôn mửa tiêu chảy, nặng thì cả nửa thuyền đều ngã bệnh theo.

Bên cạnh có một thuyền hộ trẻ tuổi thấp giọng: “Mùi này không đúng.”

Quản sự Lục gia giận dữ: “Các người đều là quân xanh cô ta gọi đến, tất nhiên là giúp cô ta nói chuyện rồi!”

“Vậy thì để thuyền y ngửi.”

Ta ngước mắt nhìn xuống dưới đài.

Lão thuyền y họ Tạ được người ta đỡ lên phía trước.

Ông đã xem bệnh thương hàn, lạ nước lạ cái và bệnh do lương thực mốc hỏng cho thuyền hộ bến Lưu Gia suốt nửa đời người. Nhiều người không tin Thẩm gia, không dám đắc tội Lục gia, nhưng không ai dám bảo cái mũi của lão thuyền y họ Tạ lại nhận tiền của ai cả.

Ông nhận lấy đĩa, chỉ ngửi một cái đã nhíu mày.

“Thứ này mà lên thuyền, kẻ dạ dày yếu sẽ hỏng trước.”

Trong đám đông vang lên những tiếng bàn tán xầm xì.

Lục Uyển Thanh siết chặt cạnh đàn tỳ bà.

Ta lại đi đến trước hũ vịt om bã rượu.

Dây đỏ trên miệng vò rất đẹp, bùn niêm phong cũng ép dấu của Lục gia. Nhưng thứ càng đẹp đẽ thì càng không chịu nổi sự bóc tách.

Nắp vừa mở, hương thơm ùa ra trước tiên.

Bạch khấu, tiểu hồi, sả, món nào cũng có đủ.

Chỉ là nó “nổi”.

Mùi hương liệu nổi trên da vịt, mùi tanh của thịt bên dưới như bị một lớp vải mỏng che đậy, vừa lật ra đã lộ nguyên hình.

Lão thuyền y họ Tạ cúi đầu ngửi, sắc mặt trầm xuống: “Thơm ở da, tanh ở xương. Ra biển hai ngày ắt hỏng.”

Lục Uyển Thanh cuối cùng cũng lên tiếng: “Tạ lão tiên sinh, món vịt om này của Lục gia được làm theo cổ pháp. Hương liệu quý giá, hương rượu thanh nhã, chưa chắc mọi người đã ăn quen ngay được.”

Ta nhìn nàng ta.

“Lục cô nương, bạch khấu tại sao không được bỏ sớm?”

Hàng mi nàng ta khẽ run.

“Sả tại sao phải đợi đến lúc sắp cạn nước mới bỏ vào?”

Nàng ta không đáp.

“Men bã rượu lâu năm tại sao không thể dùng men mới thay thế?”

Đầu ngón tay nàng ta trắng bệch gần như không còn giọt máu.

Dưới đài chẳng còn ai giúp nàng ta gỡ gạc nữa.

Người làm bàn tiệc có thể nói không hiểu những điều này, người gảy tơ trúc cũng có thể nói không hiểu. Nhưng hôm nay nàng ta đứng ở đây là để nhận thưởng với tư cách “Người truyền thừa thuyền cung Thái Thương”.

Nàng ta không thể không hiểu.

Nàng ta chỉ là không hiểu thật.

Bởi vì thứ nàng ta có được là những chữ trên giấy, chứ không phải mấy hũ gốm nơi hậu viện Thẩm gia, không phải bàn tay chạm vào thành vò nghe hơi ẩm giữa đêm thâu của mẹ ta.

Sắc mặt quan lại càng lúc càng khó coi.

Quản sự Lục gia vội vàng nói: “Dù hôm nay thuyền cung có chút sai sót nhỏ cũng không thể chứng minh lời Thẩm gia nói là thật hoàn toàn. Lễ hiến cung không phải là nơi xét xử vụ án!”

“Không phải xét xử.”

Ta lau sạch tay, cầm lấy bài hộ lương treo trên miệng vò.

“Nhưng đây là thuyền cung.”

Thẻ gỗ rất mới, khắc cũng rất chỉnh tề.

Số thuyền, số tiệm, ngày niêm vò, ngày lên thuyền, chẳng thiếu thứ gì.

Nhưng ta chỉ liếc nhìn một cái đã lật nó lại, đưa cho vị quan lại.

“Lục gia giả mạo bài hộ lương Thẩm ký, đến quy củ cũng chẳng nắm rõ.”

Quan lại nhận lấy, đôi mày nhíu chặt: “Ý cô là sao?”

Ta chỉ vào hai dòng chữ trên mặt thẻ.

“Ngày niêm vò khắc là mùng tám tháng Tư, ngày lên thuyền lại khắc là mùng sáu tháng Tư.”

Đám đông lặng đi trong tích tắc.

Có người phản ứng kịp, bật cười khẽ một tiếng rồi nhanh chóng thu lại.

Thuyền cung viễn dương, phải niêm vò trước, lên thuyền sau. Dù không hiểu hỏa hầu thì cũng phải hiểu ngày tháng.

Ta nhìn Lục Uyển Thanh.

“Ngày niêm vò lại khắc sau ngày lên thuyền. Lục cô nương, cô đến cả quy tắc niêm trước lên sau của thuyền cung cũng không biết.”

Lớp vỏ dịu dàng trên mặt Lục Uyển Thanh rạn nứt rõ rệt hơn bao giờ hết.

“Thẻ này không phải đích thân ta khắc.” Giọng nàng ta yếu ớt, “Kẻ dưới sơ suất, sao có thể tính lên đầu ta?”

Ta nhìn nàng ta: “Khúc nhạc là cô sửa, bản đồ là cô hiến, thuyền cung là cô nhận thưởng. Vậy mà sai sót thảy đều là của kẻ dưới sao?”

Trong mắt nàng ta đã lộ vẻ lạnh lẽo.

“Thẩm cô nương, cô hết lần này đến lần khác ép người quá đáng, chẳng qua là vì Chu lang cưới ta nên lòng cô bất mãn thôi.”

Câu nói này vừa dứt, xung quanh quả nhiên lại có chút xôn xao.

Nàng ta rất thông minh.

Một khi thuyền cung và điệu hát cũ không nói rõ được, liền kéo sự việc về chuyện nam nữ tranh giành. Chỉ cần ta trở thành một kẻ đố phụ, mọi bằng chứng của Thẩm gia đều sẽ bị phủ lên một lớp oán hận cá nhân.

Ta không đáp lại cái tên Chu Nghiễn.

Ta đặt miếng bài hộ lương khắc sai ngày ấy lên án hương.

Tiếng thẻ gỗ chạm vào mặt án không nặng, nhưng lại áp đảo cả những tiếng xì xào trong đám đông.

“Lục cô nương.”

Ta nhìn nàng ta, gằn từng chữ.

“Mạng của thuyền hộ không phải là tờ hoa tiên để cô dùng để trang trí cho vẻ thể diện của mình.”

09

Lục Uyển Thanh đứng sau án hương, sắc mặt tái dần đi từng chút một.

Nhưng nàng ta vẫn không hề thất thái.

Nàng ta chỉ khẽ vịn vào cây tỳ bà, như thể bị người ta oan uổng vô cớ, đáy mắt chứa chan một lớp tủi thân mỏng manh.

“Thẩm cô nương.” Giọng nàng ta rất thấp nhưng đủ để những người hàng đầu nghe thấy, “Cô hận ta gả cho Chu lang, ta hiểu được. Nhưng cô không thể vì tư oán mà hủy hoại thanh danh mấy đời của Lục gia.”

Trong đám đông lại có vài ánh mắt đổ dồn về phía ta.

Nàng ta giỏi nhất là dùng những lời lẽ như vậy.

Biến thuyền cung thành chuyện phong nhã, biến việc trộm danh thành truyền thừa, biến tên của mẹ ta thành tin cũ dân gian, rồi ép tất cả bằng chứng quay về một câu chuyện đàn bà tranh giành đàn ông.

Ta không nhìn nàng ta.

Ta xoay người gật đầu với bà chủ quán mì Song Phụng.

Khi bà chủ chen lên phía trước, tay ôm cuốn sổ nợ cũ. Hôm nay bà không mặc áo mới, cổ tay áo còn dính vết mỡ canh dê, khi đứng cạnh thảm đỏ, nữ quyến Lục gia theo bản năng lùi lại một bước.

Bà đặt cuốn sổ lên án hương.

Một tiếng “rầm” nặng nề.

“Quán mì của ta nhỏ, không lớn bằng danh thế Lục gia.” Bà chủ nói, “Nhưng sổ sách không biết nói dối.”

Quan lại nhìn bà một cái: “Đây là cái gì?”

“Sổ nợ cũ.” Bà lật trang sổ, chỉ vào những chữ trên đó, “Năm xưa Thẩm Đường nợ gạo, nợ mì, nợ khoai sọ lông mới để làm dược thiện cho quyến thuộc viễn dương, sửa lại lương khô cho thuyền hộ. Năm nào tháng nào, nhà ai lấy bao nhiêu, trên sổ đều có cả.”

Bà nói chuyện không văn nhã nhưng rất thực tế.

Một phụ nhân từ trong đám đông chen ra, vành mắt đỏ hoe: “Nam nhân nhà tôi năm đó về cảng, ăn lương thực mốc hỏng dạ dày, chính Thẩm nương tử đã nướng bánh gạo thật mỏng, lại bảo tôi dùng canh dê ngâm mềm cho nhà tôi ăn. Phương thuốc đó nhà tôi vẫn còn giữ.”

Một lão thuyền hộ khác cũng lên tiếng: “Điệu hát tôi hát không phải của Lục gia. Là Thẩm nương tử ngồi trong bếp sau quán mì Song Phụng, nghe chúng tôi hát từng câu, sửa lại từng câu đấy.”

Sắc mặt Lục Uyển Thanh càng thêm trắng bệch.

Nàng ta vẫn cố gắng mỉm cười: “Sổ nợ cũ chỉ chứng minh Thẩm nương tử nhân thiện, chứ không chứng minh được khúc phổ và đồ bản thuyền cung—”

“Chứng minh được.”

Từ trong bóng tối cổng cung, lão miếu chúc bước ra.

Lão đi rất chậm, tay bưng một cuốn sổ cũ của Thiên Phi cung.

Bìa sổ bị hương khói ám đen, các góc được khâu bằng chỉ đỏ.

Lão đặt cuốn sổ cũ trước mặt quan lại, lật đến một trang trong đó.

“Thẩm Đường, nương tử thuyền cung Thẩm ký bến Lưu Gia. Phát cháo lễ Quy Phàm suốt ba năm, nộp một tập đồ bản thuyền cung, một tập điệu hát cũ Quy Phàm, nguyện Thiên Phi nương nương hộ trì người viễn dương bình an.”

Lão miếu chúc ngước mắt nhìn Lục Uyển Thanh.

“Lúc đó Lục cô nương còn nhỏ. Lục gia đến mượn tập bản thảo cũ đó đi, nói là để giúp bà ấy chép lại lưu giữ. Ở Thiên Phi cung này có lưu lại ghi chép.”

Gió xuyên qua cổng cung, thổi tro hương tán lạc khắp án hương.

Đầu ngón tay Lục Uyển Thanh nhấn trên dây tỳ bà, dây đàn bị ép phát ra một tiếng động sắc nhọn.

Rất ngắn, rất chói tai.

Quan lại nhận lấy cuốn sổ cũ, lại xem qua sổ nợ của quán Song Phụng. Vài vị đầu mục thuyền hộ nãy giờ vẫn ngồi vững cũng đã đổi sắc mặt.

Họ chưa chắc đã vì Thẩm gia mà thấy bất bình bao nhiêu.

Nhưng thuyền hộ kỵ nhất là dùng mạng sống để làm giả.

Ruốc thịt của Lục gia hoàn ẩm, vịt om tanh nồng, bài hộ lương khắc sai ngày tháng. Nếu hôm nay vẫn để Lục Uyển Thanh nhận thưởng, sau này trượng phu, con trai, cha già của nhà ai lên thuyền đều phải giao phó dạ dày cho một kẻ chỉ biết gảy đàn sao.

Quản sự Lục gia còn định nói gì đó, quan lại đã trầm giọng: “Lễ hiến cung tạm dừng. Thuyền cung Lục gia hiến nộp phải niêm phong nghiệm lại. Bản tơ trúc hợp phổ thuyền cung Lục thị tạm thời không đưa vào đại sách.”

Dưới đài xôn xao.

Lục Uyển Thanh lùi lại nửa bước.

Nha hoàn phía sau định đỡ nàng ta nhưng nàng ta né tránh bàn tay đó. Nàng ta vẫn muốn giữ thể diện, dù thể diện đã nát vụn trên án hương, cũng phải tự mình nhặt lấy.

Ta nhìn nàng ta.

Nàng ta cũng nhìn ta.

Lần đầu tiên trong mắt nàng ta không có vẻ dịu dàng, chỉ còn lại sự lạnh lẽo.

Nhưng ta chẳng rảnh mà đối mắt với nàng ta lâu.

Ta đi đến trước tấm bia hiến cung cạnh Thiên Phi cung.

Mặt bia không lớn, khắc tên những người đã phát cháo, hiến lương, sửa đèn cho lễ Quy Phàm suốt những năm qua. Thẩm gia không có tên. Mẹ ta không có tên.

Lão miếu chúc đưa tới một mảnh vải ướt.

Ta nhận lấy, chậm rãi lau sạch bụi hương bên cạnh tấm bia.

Mặt đá rất lạnh.

Bụi bặm dính trên đầu ngón tay ta như tro lò trên bếp năm xưa của mẹ. Cả đời bà bị người ta chê mùi khói lửa nặng nề, bị nói là bám víu, bị vu cho trộm phổ.

Nhưng thứ bà để lại cho bến Lưu Gia là một miếng cơm cứu mạng, là một điệu hát để nhớ ngày về.

Ta không khóc.

Nước mắt không thể khắc tên vào đá.

Ta mượn lão miếu chúc con dao khắc.

Khi mũi dao hạ xuống, xung quanh lặng ngắt.

Thẩm .

Nét đầu tiên rất vững.

Đường .

Chữ thứ hai hạ xuống, bột đá mịn rơi trên mu bàn tay ta.

Thẩm Đường.

Nương tử thuyền cung Thẩm ký bến Lưu Gia.

Ta trả lại dao khắc, xoay người nhìn vị quan lại và những đầu mục thuyền hộ kia.

“Sau này thuyền cung Thẩm ký xuất hàng sẽ lưu danh, lưu bài, lưu sổ. Mỗi hũ ruốc thịt, mỗi hũ vịt om, mỗi gói lương khô đều ghi rõ số tiệm, ngày niêm vò, ngày lên thuyền. Ai làm, ai nghiệm, ai thu, thảy đều phải ghi lại trên giấy.”

Chẳng có ai đáp lời ngay lập tức.

Ta nói tiếp: “Tay nghề có thể truyền, nhưng cái tên thì không thể trộm.”

Lão thuyền hộ họ Tần là người đầu tiên gật đầu.

“Nên như thế.”

Bà chủ Song Phụng cũng nói: “Quán mì của ta sẽ làm chứng cho cô.”

Ta lại nói: “Sau này Thẩm ký dùng nhân công nữ cũng sẽ viết tên của người phụ nữ đó.”

Trong đám đông có một sự xao động rất khẽ.

Có người ngước nhìn ta.

Những người phụ nữ tiễn biệt ở bến tàu, thức đêm bên bếp lò, những người bị xóa tên sau những đơn hàng… cũng nên có một ngày không chỉ được gọi là vợ nhà ai, con gái nhà ai, hay góa phụ nhà ai nữa.

Trong đám đông lần lượt có người hưởng ứng, tiếng không lớn nhưng từng tiếng một nối lại với nhau như nước triều cảng biển từ từ dâng lên bậc đá.

Ta ngẩng đầu nhìn đèn Quy Phàm dưới mái hiên Thiên Phi cung.

Gió thổi đèn lay, bóng đèn đổ trên tấm bia. Tên của mẹ ta nằm trong vầng sáng lay động ấy, lần đầu tiên không còn phải trốn sau gian bếp, sổ nợ cũ hay khúc phổ của người khác nữa.

Lục Uyển Thanh đã lùi sau đám đông từ lúc nào không hay.

Chẳng còn ai nhường nàng ta ngồi lại đài cao nữa.

Khi tên của mẹ ta khắc lên bia đá, ngọn gió Đông của bến Lưu Gia vừa lúc xuyên qua Thiên Phi cung.

Những chiếc đèn Quy Phàm trên giá bị thổi va vào nhau khe khẽ, bóng đỏ đổ trên mặt bia, cũng đổ trên hai chữ “Thẩm Đường”.

Ngày hôm đó, Chu Nghiễn vẫn còn lênh đênh ngoài biển.

Chàng không biết rằng, người mà chàng ngỡ sẽ thay mình giữ đèn đã tự tay tháo đèn rồi.

Chàng cũng không biết rằng, người mà chàng ngỡ sẽ thay mình giữ tiệm đã khắc lại cái tên của Thẩm gia lên Thiên Phi cung.

Ta trả dao khắc cho lão miếu chúc, đầu ngón tay vẫn còn dính chút bột đá.

Lớp bột ấy rất mịn, giống như lớp tro rơi trong lò bếp năm xưa.

Nhưng lần này, nó không bị gió thổi tan nữa.

Nó rơi vào lòng bàn tay ta, tựa như một mảnh đất vừa mới giành lại được.

10

Ba năm sau, chuyến tàu đầu tiên trở về bến Lưu Gia.

Chu Nghiễn sau khi xuống thuyền, nơi đầu tiên chàng nhìn không phải cầu cảng mà là giá đèn ở Thiên Phi cung.

Tựa như một kẻ tin chắc rằng mình vẫn còn nhà để về.

Nhưng khi chàng đi đến đầu phố bến Lưu Gia, thứ chàng nhìn thấy không phải là tiệm nhỏ họ Thẩm năm nào.

Mà là cả một dãy “Thẩm ký thuyền cung hành” treo đầy bài hộ lương.

Trên giá gỗ mới dựng trước cửa, số hiệu thuyền, số tiệm, ngày niêm vò, ngày lên thuyền đều được khắc rõ mười mươi. Đám gia nhân bận rộn khuân hàng, kiểm bài, đối sổ; ruốc thịt trong bếp vừa tắt lửa, những sàng tre được trải từng lớp nơi hậu viện; bùn niêm phong trên miệng vò vịt om vẫn còn vương sắc ẩm.

Ba năm nay, thuyền cung Thẩm ký từ chỗ cung cấp cho ba con tàu, đã lớn mạnh lên thành hai mươi bảy con tàu.

Lửa bếp nhà họ Thẩm không còn chỉ giữ một con phố, mà là đối diện với mỗi con thuyền sắp viễn dương của bến Lưu Gia.

Khi tàu về cập bến, những cánh buồm ẩm ướt rũ xuống, thân tàu mang theo mùi muối và gió biển khơi xa. Trên bờ tiếng khóc, tiếng cười, tiếng gọi tên hỗn loạn thành một mảnh. Quyến thuộc người viễn dương chen chúc trên bến tàu, người lao tới ôm chầm lấy thân nhân, kẻ tìm mãi không thấy cái tên quen thuộc trong đám đông, đành vịn lan can từ từ ngồi thụp xuống.

Ta không chen lên phía trước.

Gia nhân của Thẩm ký thuyền cung hành đã kê bàn án ra, sổ sách trải rộng, những miếng bài hộ lương đặt từng chiếc trong khay gỗ.

Vài thuyền hộ sau khi xuống thuyền, việc đầu tiên là mang miếng bài gỗ trên miệng vò tới.

“Thẩm đông gia, ruốc thịt thuyền Giáp Tam còn dư nửa hũ, không hề bị ẩm.”

“Thẩm đông gia, vò vịt om cuối cùng hôm qua mới mở, để nguội ăn cũng không ngấy.”

“Thẩm đông gia, bài này cô giữ cho kỹ, chuyến sau nhà tôi vẫn đặt hàng tiếp.”

Họ gọi một tiếng “Thẩm đông gia” thật tự nhiên.

Tựa như danh xưng này đã được gọi ở bến Lưu Gia tự bao năm rồi.

Ta cúi đầu ghi sổ, ngòi bút lướt trên mặt giấy, sắc mực thấm xuống thật vững vàng.

Bình Luận (0)

Vui lòng Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận...