Mưa rơi trên mặt ô, dầy đặc li ti. Thể diện của Lục Uyển Thanh sớm đã nát vụn ở Thiên Phi cung một lần, giờ đây ngay cả chiếc ô che giấu sự xấu hổ cũng chẳng giữ nổi. Nàng ta vẫn muốn mượn Chu Nghiễn để trở về vị trí cũ, nhưng chính Chu Nghiễn cũng chẳng còn vị trí nào nữa rồi.
Ta không nghe thêm nữa.
Trước khi đóng cửa, ta chỉ nói với họ một câu: “Đừng có chắn đường xuất hàng sáng mai.”
Cánh cửa khép lại, tiếng mưa bị chặn ở bên ngoài.
Trước khi vào đông, Thẩm ký thuyền cung hành nhận thêm bốn nữ công mới.
Một người là con gái thuyền hộ bị hủy hôn, một người là góa phụ có chồng chết ngoài biển, một người từng làm việc trong phòng giặt ủi nhà họ Lục, và một người nữa là cô nương bị Chu mẫu gọi là “mạng cứng khắc phu”.
Lúc họ đến đều cúi đầu, tay thô, áo cũ, nhưng ánh mắt rất sáng.
Ta bảo họ học ghi sổ trước.
Một vò ruốc thịt Thái Thương dùng bao nhiêu thịt, khi nào xuống nồi, khi nào tán hơi, khi nào niêm vò; vịt om bã rượu phải dùng men đáy của hũ gốm nào, bạch khấu khi nào bỏ, sả khi nào thu; bánh gạo khô vào vò phải nghe tiếng vang thế nào; ngày niêm vò và ngày lên thuyền trên bài hộ lương, nửa chữ cũng không được khắc sai.
Có người học chậm, ta bảo họ chạm vào thành vò, ngửi hơi ẩm. Có người tay run, ta bảo họ khắc lên những miếng gỗ phế trước.
Những thứ mẹ ta để lại năm xưa không thể chỉ dựa vào một người giữ. Cái tên của một người thì dễ bị trộm, nhưng tay nghề của một nhóm người thì không dễ bị xóa nhòa đến thế.
Tạ Lâm Chu thỉnh thoảng đến đưa thuốc, thấy hậu viện một dãy phụ nữ vây quanh sàng tre nhặt ruốc thịt, khẽ mỉm cười.
“Thẩm đông gia giờ trông như mở nửa gian học đường rồi đấy.”
Ta đưa một miếng bài hộ lương đã khắc xong cho cô nương mới đến kiểm nghiệm.
“Học được nghề rồi, mới không sợ người khác ban cơm cho.”
Tạ Lâm Chu không đáp lời, chỉ đặt thuốc lên quầy.
Huynh ấy hiểu sự chừng mực. Điều này rất tốt.
Khi Thiên Phi cung lại tổ chức lễ Quy Phàm, bến Lưu Gia lại nổi gió Đông. Lần này, giá đèn được dựng cao hơn. Người về bến muốn trả lễ, người viễn dương muốn thắp hương, những người đợi chồng, đợi con, đợi cha đều kiễng chân trong đám đông tìm ngọn đèn của nhà mình.
Khi ta dẫn người của Thẩm ký thuyền cung hành đến, lão miếu chúc đã bày sẵn một dãy đèn mới.
Ta thắp một ngọn cho mẹ trước tiên.
Trên thẻ đèn viết: Thẩm Đường, nương tử thuyền cung Thẩm ký bến Lưu Gia.
Khi ngọn lửa sáng lên, cái tên của bà bên cạnh bia đá cũng được soi tỏ.
Bột đá đã sớm được quét sạch, chỉ còn lại những vết khắc trầm ổn lưu lại nơi đó.
Ta lại thắp một ngọn cho Thẩm gia.
Thay cho lửa bếp, thay cho hũ gốm, thay cho những mẻ ruốc thịt và vịt om đã trải qua hơi ẩm, và cũng thay cho nửa đời người nhẫn nhịn của cha.
Những nữ công đứng sau lưng ta, không ai nói lời nào.
Ta đưa cho họ vài ngọn đèn.
“Muốn thắp cho ai, thì thắp cho người đó.”
Cô nương bị hủy hôn thắp cho người cha đã khuất. Người góa phụ thắp cho con tàu chưa trở về. Người phụ nữ từng làm ở phòng giặt ủi Lục gia do dự rất lâu, rồi thắp cho chính cái tên của mình.
Đèn được treo lên từng ngọn, ánh đỏ lay động khẽ khàng trong gió.
Chu Nghiễn đứng ở đằng xa. Chàng gầy đi rất nhiều, bên cạnh không có Lục Uyển Thanh. Nghe nói Lục gia đã đưa Lục Uyển Thanh về biệt viện dưới quê, Chu gia cũng không thể nhờ chàng mà ngóc đầu lên được nữa. Những chuyện đó thỉnh thoảng có người nhắc lại, nhưng nhanh chóng bị những kỳ hạn tàu mới, sổ sách mới, sóng triều mới che lấp đi.
Chàng nhìn ta, như muốn tiến lên nhưng lại dừng lại. Lần này không có ai ngăn cản chàng. Chỉ là dưới giá đèn đã không còn vị trí của chàng nữa rồi.
Lão miếu chúc hỏi ta: “Thẩm đông gia, còn lại ngọn cuối cùng, viết tên gì?”
Ta nhìn ngọn đèn sạch sẽ kia.
Giấy đèn là tự tay ta dán, đai tre mỏng mà dai, trong dầu đèn vẫn pha một chút hương men nơi hậu viện Thẩm gia. Nó sẽ không quá sáng, nhưng cũng không dễ bị tắt.
“Không viết tên.”
Lão miếu chúc ngẩn ra, rồi lập tức gật đầu.
Ta tự tay thắp sáng nó, treo ở vị trí cao nhất hơi lệch về phía trái.
Gió thổi qua, ngọn đèn không tên khẽ đung đưa, tựa như một cánh buồm vừa mới lộ diện ở phía xa bến Lưu Gia.
Thủy triều Thái Thương mỗi ngày hai lần, dâng lên rồi lại rút.
Thuyền đi thuyền về, luôn có người phải viễn dương, cũng luôn có người phải trở lại. Ta đứng dưới giá đèn Thiên Phi cung, nghe tiếng hò kéo lưới từ bến cảng nương theo gió Đông truyền tới.
Ngọn gió đó đi qua mặt sông, đi qua cánh buồm, đi qua từng ngọn đèn đợi người về.
Nhưng không còn đưa cố nhân trở lại nữa.
Ta ngẩng đầu nhìn ngọn đèn không tên kia. Gió từ bến Lưu Gia tới, thổi ngọn lửa hơi nghiêng đi.
Nó không đợi chờ ai.
Cũng không thay ai soi đường về.
Nó chỉ cứ thế mà sáng.
Tựa như bến bờ mà tự tay ta đã giành lấy được.
Chaporia
Bình Luận (0)