Xuân qua thu đến, từ ban ngày đến đêm tối, từ đêm tối lại đến ban ngày.
Liễu Nhi và Chuyên Nhi lại lớn thêm chút nữa, có thể chạy có thể nhảy.
Vừa phải đi học, vừa phải giúp ta làm việc.
Ta dần dần mê trồng trọt và nuôi gà.
Nhìn sinh linh nhỏ bé dưới sự chăm sóc tận tình của ta, từng chút một lớn lên khỏe mạnh, quả là chuyện rất có cảm giác thành tựu.
Khi xuân tới gieo trồng, dường như Liễu Nhi đã có tình ý với một thiếu niên ở thôn bên.
Thiếu niên hái hoa dại kết thành vòng hoa, đội lên đầu Liễu Nhi.
Liễu Nhi hỏi: “Đẹp không?”
Thiếu niên đỏ mặt, gật đầu: “Đẹp, đẹp lắm.”
Liễu Nhi cũng đỏ bừng mặt, cầm vòng hoa về nhà, cười ngây ngô.
Ta rất lo, sợ nàng bước theo vết xe đổ của Tiểu cô nương.
Mùa gieo mạ, các phụ nhân giúp ta xuống ruộng cấy lúa, ta thuận miệng nói ra nỗi lo của mình.
Vợ thằng Triệu Nhị khuyên ta đừng lo, ta hỏi vì sao.
Nàng có một cái tên rất hay, gọi là Xuân Hoa.
Xuân Hoa nháy mắt với ta, nói: “Trong thôn có nữ tiên nhân bảo hộ, ai trong nhà còn dám ngu ngốc mà đánh vợ, sẽ bị nữ tiên nhân sửa trị.”
Lưu thẩm thẩm và mấy thẩm thẩm khác đều cười theo.
Ta lại không cười nổi.
Nữ tiên nhân? Có thật không? Đừng có dọa bộ xương này.
Chỉ là trước đây, ta vẫn luôn lo Liễu Nhi bị đàn ông bắt nạt, Chuyên Nhi bị thói đời làm lệch lạc, nên ban đêm hễ có việc gì là ta lại lang thang trong thôn.
Nhà nào có tên đàn ông ham ăn lười làm mà đánh vợ, ta liền đi dọa cho một trận.
Có kẻ đánh bạc, kẻ say rượu, kẻ lười biếng không chịu làm việc, ta cũng không tha, dọa đến khi bọn chúng vãi cả mật.
Dần dần, tiếng khóc của phụ nữ ít đi, đám đàn ông cũng ngoan ngoãn hẳn lên.
Không chỉ ngôi thôn này, mấy thôn trên các ngọn núi lân cận, ta cũng đã đi khắp.
Thôn của thiếu niên kia cũng thế, hẳn là hắn sẽ không đánh Liễu Nhi đâu nhỉ?
Trong ruộng mạ, các phụ nhân nói nói cười cười.
Ta thấy trên đầu Xuân Hoa có một sợi tóc bạc, bèn nhổ xuống.
Xuân Hoa “ái da” một tiếng, nhìn sợi tóc rồi lại nhìn ta, cười.
“Tiểu cô nương thật chẳng thấy già đi chút nào.”
Mấy phụ nhân khác cũng đều cười, Lưu thẩm thẩm cũng vậy.
Lúc này ta mới chú ý, các nàng đều già đi đôi chút.
Nhưng ta sẽ không già.
Tiểu cô nương vốn đã là người chết, da thịt của nàng giữ nguyên dáng vẻ trước khi chết, sẽ không có thay đổi tuổi tác.
Mười bốn.
Năm mười lăm tuổi, Liễu Nhi xuất giá rồi.
Ta rất không nỡ, nhưng Xuân Hoa và Lưu thẩm thẩm nói, nào có ai không gả chồng.
May mà, đôi vợ chồng trẻ ấy ở ngay thôn bên cạnh.
Bên đó đất đai màu mỡ, săn bắn cũng nhiều.
Ta vừa rảnh tay là mang gà vịt, lương thực sang thăm Liễu Nhi.
Liễu Nhi rất hạnh phúc.
Nàng vịn lấy bụng, nắm tay ta.
“Mẫu thân, người cứ yên tâm, con sống rất tốt.”
“Người sờ thử xem, tiểu ngoại tôn của người đang đạp con đây này.”
Nhịp động dưới bụng nàng tràn đầy hơi thở của sự sống, ta lần đầu tiên cảm nhận được, làm người thật tốt biết bao.
“Liễu Nhi, con sẽ sống thật tốt.”
“Có mẫu thân ở đây, Liễu Nhi là người hạnh phúc nhất.” Nàng nhìn ta, đôi mắt sáng lấp lánh, hệt như năm ấy, Tiểu cô nương đến tặng đào cho ta.
Trước và sau khi Liễu Nhi sinh nở, ta càng chạy ngược chạy xuôi thường xuyên hơn.
Các phụ nhân trong thôn cũng dạy ta cách chăm nom sản phụ, còn đem sơn trân với trứng gà cho ta, bảo ta mang sang cho Liễu Nhi.
So với ta, chẳng hiểu vì sao đám đàn ông lại đều tránh xa ta.
Có lúc ta hỏi bọn họ vài câu, chân bọn họ run đến mức như cái sàng.
Còn đám phụ nhân thì lại thân cận với ta, bất kể ta đang làm gì, các nàng cũng phải chen lại, ríu rít nói đông nói tây.
Phiền phức, ồn ào, nhưng cũng coi như phong phú.
15
Mùa đông đến, Liễu Nhi sinh một bé gái, trắng trẻo mũm mĩm, rất đỗi đáng yêu.
Nhà chồng nàng cũng mừng lắm, chăm sóc nàng và đứa bé vô cùng chu đáo.
Năm thứ ba, nàng lại sinh một bé trai, cả một nhà náo nhiệt vô cùng.
Năm thứ năm, nàng lại mang thai, bụng mang dạ chửa, được cả nhà nâng niu như báu vật.
Thế nhưng ngay lúc ta đi về giữa hai thôn, trong thôn bỗng tới một đạo sĩ áo tím.
Hắn có chút bản sự, vừa vào thôn đã nói nơi đây yêu khí ngút trời, là có tai họa làm loạn.
“Đợi bần đạo trừ khử con yêu nghiệt này, sẽ trả lại cho các ngươi sự yên ổn.”
Hắn bày đàn làm phép, nhưng còn chưa kịp thay xong đạo bào, Lưu thẩm thẩm đã dẫn người trong thôn tới.
“Thôn chúng ta nào có yêu nghiệt gì, trái lại là ngươi, lão đạo sĩ nhà ngươi, miệng toàn nói bậy nói bạ, là tới lừa tiền đấy à.”
Đạo sĩ vội vàng nói: “Bần đạo lấy việc duy trì chính nghĩa, trảm yêu trừ ma làm bổn phận, tuyệt không có ý lừa tài.”
Xuân Hoa chống nạnh mắng: “Duy trì cái chó má chính nghĩa, dù sao thôn chúng ta cũng chẳng cần ngươi lo chuyện bao đồng.”
Ta đứng phía sau đám đông, trong lòng chột dạ đến không chịu nổi.
Đạo sĩ áo tím lần theo khí tức mà nhìn thấy ta, hắn sững người, rồi lấy ra pháp bảo.
“Đây là túi Phục Ma Càn Khôn, yêu nghiệt nào bị ánh kim quang chiếu tới…”
Lời còn chưa dứt, mấy đứa trẻ nghịch ngợm đã lao tới, liên thủ giật lấy cái túi của hắn, cười hì hì chạy đi xa.
Hắn cuống lên đuổi theo, Lưu thẩm thẩm quát một tiếng.
“Đem đống rối rắm của tên đạo sĩ mũi trâu già này, quăng hết vào khe núi cho ta.”
Nam nữ già trẻ cùng nhau ra tay lật tung pháp đàn, còn đuổi luôn cả lão đạo sĩ đi.
Ta thở phào nhẹ nhõm, nhưng vẫn chột dạ, cố ý hỏi Lưu thẩm thẩm: “Thôn ta lấy đâu ra yêu nghiệt chứ?”
Tóc bạc trên đầu Lưu thẩm thẩm lại nhiều thêm đôi chút, bà cười vô cùng vui vẻ.
“Đúng thế, thôn ta được tiên nương nương bảo hộ, lấy đâu ra yêu?”
16
Khi đứa con thứ ba của Liễu Nhi chào đời, Chuyên Nhi cũng thành thân rồi.
Nó cưới con gái thứ hai của Xuân Hoa, lần lượt sinh được ba đứa con.
Nhưng năm ấy cũng chẳng yên bình, bên ngoài đang đánh trận, khắp nơi đều bắt lính tráng.
Chuyên Nhi bị bắt đi, còn có cháu trai của Lưu thẩm thẩm là Thuận Tử, cùng với không ít đứa trẻ ta đã nhìn lớn lên.
Trước khi đi, Chuyên Nhi quỳ xuống dập đầu với ta.
“Mẫu thân, con cả đời này đều gây phiền toái cho người.”
“Lẽ ra phải để người hưởng phúc, nhưng trời chẳng chiều lòng người.
”
“Con vừa đi, việc trong nhà lại phải phiền đến người. Xin người, hãy thay con chăm sóc tốt cho thê tử và hài tử.”
Trong lòng ta nghẹn lại, chỉ ôm chặt nó, không nỡ buông tay.
Đám nam nhân vừa đi, trong thôn dường như cũng yên ắng đi rất nhiều.
Cũng trong năm ấy, trời giáng đại hạn, không một giọt mưa.
Người trong thôn mắt nhăn mày chau, đã sắp không sống nổi nữa rồi.
Nhà Liễu Nhi cũng chẳng khá hơn, vốn dĩ họ trông vào ruộng nước để cày cấy.
Trời khô hạn, họ thu hoạch chẳng được hạt nào, ăn mặc đều thành vấn đề.
Ta lấy thân yêu mà cầu sơn thần, cầu thổ địa, cầu thành hoàng.
Đều vô dụng.
Chỉ là, Thành Hoàng gia bảo ta biết, chỗ này không có nước, nhưng ngoài ngàn dặm, mưa lớn vẫn nối nhau không dứt.
Ta chỉ là một con tiểu yêu, yêu lực yếu ớt.
Chỉ là đi một chuyến ngàn dặm trong ngày để mang ít nước về thôi mà, cũng, cũng không thành vấn đề.
Ta hết chuyến này đến chuyến khác mà chạy, từ sông ngòi ngoài ngàn dặm mang nước trở về, rồi lại lên đỉnh núi, dùng yêu lực gọi gió hú mưa.
Trời cuối cùng cũng ban xuống mưa ngọt, núi sông ruộng đồng của mấy thôn đều sống lại.
Có điều ta lại ngã xuống.
Yêu lực còn sót lại không ngừng tan rã, khiến ta gần như ngay cả thân thể của Phúc Nương cũng không chui vào nổi.
Liễu Nhi đến chăm sóc ta, ngày đêm canh giữ bên cạnh.
“Mẫu thân, người sẽ không sao đâu.”
“Mẫu thân, Liễu Nhi sợ lắm, người mở mắt ra nhìn con đi.”
“Mẫu thân, mẫu thân…”
Nó từng tiếng gọi ta, tựa như khi còn nhỏ gặp lúc bất lực nhất, chỉ cần ta đáp nó một tiếng, nó mới có thể yên tâm.
Những giọt nước mắt to như hạt đậu nện lên mặt ta, ta giơ tay, vuốt ve gò má Liễu Nhi.
Bây giờ nó, đã lớn hơn Phúc Nương rất nhiều rồi.
Nhìn nó, tựa như nhìn thấy dáng vẻ già đi của Phúc Nương.
“Liễu Nhi, Liễu Nhi của ta.”
Nó chính là tiểu cô nương ta tự tay nuôi lớn mà, làm sao ta nỡ rời xa.
Yêu lực vẫn đang thất thoát, ta lần đầu tiên thân thiết cảm nhận được, cái gọi là “cái chết” là gì.
17
Năm ấy ta không chết, chỉ nằm rất lâu.
Liễu Nhi và người trong thôn thay phiên nhau chăm sóc ta, đợi ta khá lên rồi, mới phát hiện bên kia mộ nữ đã có thêm một ngôi miếu.
Liễu Nhi nói với ta, đó là do người trong thôn cùng nhau dựng nên, tượng vàng bên trong còn được cao tăng đắc đạo làm lễ khai quang.
Ta quay về nhìn, quả nhiên ngôi miếu uy nghi đường hoàng.
Lờ mờ nhìn vào trong, tượng vàng bị vải đỏ che phủ, không nhìn rõ được.
Ta hoảng hốt lắm.
Đều là những người gì vậy chứ, cứ nhất định phải dựng thần miếu ngay trong nhà của yêu quái người ta.
Mười tám.
Có lẽ lại qua bảy tám năm nữa.
Đến cả đứa con út của Chuyên Nhi cũng đã có thể xuống sông mò cá rồi.
Nó mang cá về, hưng phấn chạy đến trước mặt ta.
“Bà nội, nướng cá, nướng cá cho con.”
Bây giờ ta đã rất biết nấu cơm rồi, tay nghề nướng cá lại càng là nhất lưu.
Ta đang nướng cá, đứa con út của Chuyên Nhi nằm phục trên đầu gối ta, đôi mắt sáng lấp lánh.
Nó rất giống Chuyên Nhi lúc còn nhỏ, cũng hoạt bát lanh lợi như vậy.
Ta ngóng về phía chân trời nơi mặt trời lặn, rất nhớ Chuyên Nhi.
Chiều tối, chắt của Lưu thẩm thẩm đến tìm ta.
Ta vào trong nhà, Lưu thẩm thẩm tóc bạc trắng đang nằm trên giường.
“Phu nhân, ta mơ thấy Thuận Tử rồi.”
Bà nói, Thuận Tử bị lạc đường, đi đi lại lại trong khu rừng mù mịt sương, gấp đến mồ hôi đầm đìa cũng không ra được.
“Phu nhân, làm sao đây, hình như Thuận Tử không về được nữa rồi.”
“Phu nhân, phải làm sao bây giờ?”
Bà đã rất già rồi, trên mặt nếp nhăn hằn sâu như khe rãnh.
Ta lau đi nước mắt của bà, nhẹ giọng an ủi.
“Ngủ đi, ngủ một giấc, Thuận Tử sẽ trở về.”
Không chỉ là Thuận Tử, Chuyên Nhi, còn có những đứa trẻ khác, đều phải trở về.
Ta phân tách bản thân thành rất nhiều mảnh, nhập thân lên vô số chim chóc, bắt đầu lên đường xa xôi.
Bay về tứ phương, bay về bầu trời rộng lớn, tìm kiếm ở khắp mọi ngóc ngách chiến trường.
Nam nhân trong thôn đang giao chiến kịch liệt, cửu tử nhất sinh.
Khi đao kiếm sắp giáng xuống thân họ, ta tung người chắn trước.
Khi họ sắp bước vào cạm bẫy, ta lại đi trước một bước, kích hoạt cơ quan.
Đợi chiến sự lắng xuống, ta tiếp tục nhập thân vào loài quạ, dẫn lối cho họ quay về quê cũ.
Trong rừng sâu, Chuyên Nhi – mù một mắt – dìu Thuận Tử què chân, ngẩng đầu nhìn thấy con quạ.
Hắn bỗng lệ rơi đầy mặt, cất tiếng gọi:
“Mẹ… người đến đón con về rồi.”
Đến khi chân trời hé một vệt trắng như bụng cá, đám nam đinh dìu nhau xuất hiện nơi đầu thôn, không thiếu một ai.
Cả làng sôi trào.
Đêm ấy, Lưu thẩm qua đời.
Trước lúc lâm chung, bà nắm lấy tay ta, trong cơn mê man khẽ gọi:
“Cốt nương nương… đa tạ người…”
Bà gọi ai?
Là đứa chắt gái của bà – đứa bé tên Cổ Nhi chăng?
Chưa kịp hỏi, bà đã mỉm cười mà đi.
19
Liễu Nhi cũng đã già.
Từ Liễu Nhi, đến Liễu cô nương, rồi Liễu thẩm, Liễu nãi nãi.
Lúc lâm chung, nàng thần sắc an nhiên, chỉ nắm chặt tay ta, không ngừng gọi “mẹ”.
“Mẹ… Liễu Nhi không nỡ rời xa người.”
Rõ ràng tóc đã bạc, dung nhan đã tàn,
mà thần thái vẫn như đứa bé năm xưa ta nuôi lớn – hoạt bát, rạng rỡ.
“Mẹ… Liễu Nhi phải đi rồi… người cũng nên nghỉ ngơi thôi.”
“Nếu có kiếp sau… Liễu Nhi còn có thể làm con gái của mẹ… thì thật tốt biết bao.”
Ta khẽ hôn lên trán nàng, như thuở nào dỗ nàng vào giấc ngủ.
“Ngủ đi… mẹ ở bên con.”
Sau đó, Chuyên Nhi cũng qua đời.
Những người ta từng quen biết, dần dần đều rời khỏi thế gian.
Người thì nhập tổ phần, kẻ thì được đưa đến mộ nữ, an táng bên ngoài miếu thờ.
Xuân qua đông tới, ngày đêm luân chuyển, con cháu của Liễu Nhi và Chuyên Nhi… cũng lần lượt rời đi.
Từng người một… đều không còn nữa.
Nhục thân của Kỳ Nương mà ta nương vào, dường như cũng đã đến cực hạn.
Dẫu dùng yêu lực duy trì… cũng không thể ngăn nổi sự tiêu tán.
Đã đến lúc… trở về.
Ta quay lại mộ nữ, tránh xa miếu thờ, co mình dưới tảng đá.
Thầm mắng đám người kia thật thất đức—khiến ta ngay tại “nhà mình” cũng phải cụp đuôi làm yêu.
Chaporia
Bình Luận (0)