20px

Tôi nhân cơ hội chạy ra.

Người đánh chuông là Trần Hoài.

Cậu không biết lên bờ từ lúc nào.

Sắc mặt trắng bệch, cổ tay rỉ máu, nhưng ánh mắt vẫn bình tĩnh.

“Đi.”

“Cửa sau miếu có đường nhỏ về làng.”

Tôi hỏi gấp:

“Tố Tố và Trần Chu đâu?”

“Còn trên thuyền.”

“Còn Trần Đồ?”

Trần Hoài nhìn về phía sông.

“Thuyền chưa chìm.”

“Nhưng hắn sẽ phải trả giá.”

Tôi nhìn theo.

Giữa mặt sông, con thuyền đang xoay vòng.

Trần Đồ quỳ trên boong, liên tục dập đầu.

“Tôi sai rồi!”

“Tôi trả tiền!”

“Tôi trả hết!”

“Tha cho tôi!”

Nhưng mặt sông chỉ vọng lên vô số giọng nói lạnh lẽo.

“Muộn rồi.”

“Muộn rồi.”

“Muộn rồi.”

Trần Tố Tố và Trần Chu thì ôm chặt cột thuyền, quanh người có một vòng gạo nếp sống.

Rõ ràng Trần Hoài đã để lại cho họ đường sống.

Còn Trần Đồ, hắn đứng ngoài vòng gạo.

Có lẽ vì hắn muốn cướp thuyền chạy trốn nên tự bước ra ngoài.

Tôi không nhìn nữa.

Trần Hoài kéo tôi chạy vào con đường nhỏ sau miếu.

Đường bùn trơn trượt.

Hai bên toàn là lau sậy cao quá đầu người.

Chạy được một đoạn, tôi nghe sau lưng có tiếng người gọi.

“Linh à.”

“Linh.”

Lần này là giọng Trần Đồ.

“Quay lại cứu tôi với.”

“Tôi cho cô tiền.”

“Bao nhiêu cũng được.”

Tôi không quay đầu.

Hắn thấy dụ dỗ vô dụng, lập tức chửi rủa.

“Đồ đàn bà độc ác!”

“Cô thấy chết không cứu!”

“Nếu tôi chết thì cô cũng là hung thủ!”

Tôi vẫn không quay đầu.

Trần Hoài nói đúng.

Có những người, đến chết cũng không biết mình sai ở đâu.

Hắn không hối hận vì đã hại người.

Hắn chỉ hối hận vì báo ứng đến quá nhanh.

Khi chúng tôi chạy về đến đầu làng, trời đã nhá nhem tối.

Cả làng đóng kín cửa.

Không một nhà nào thắp đèn.

Chỉ có nhà tôi còn le lói ánh sáng.

Bà nội đứng sau khe cửa.

Vừa thấy tôi, bà lập tức mở cửa kéo tôi vào.

Cửa đóng sầm lại.

Bà nhìn tôi từ đầu đến chân, xác nhận tôi còn sống mới thở phào.

“Bà biết ngay năm nay sẽ xảy ra chuyện.”

Tôi hỏi:

“Bà biết?”

Bà nội im lặng rất lâu.

Sau đó mới nói:

“Năm nay là năm thứ sáu mươi.

“Sáu mươi năm trước, làng từng nợ Thủy thi một món nợ.”

Tôi chưa kịp hỏi tiếp, bên ngoài bỗng vang lên tiếng gõ cửa.

Cốc.

Cốc.

Cốc.

Một giọng nói quen thuộc vang lên:

“Nhà tôi gói dư nhiều bánh chưng quá.”

“Mang sang biếu mọi người ăn cho vui.”

Là giọng của Trần Đồ.

Tôi lập tức lạnh sống lưng.

Bà nội bịt miệng tôi, lắc đầu.

Bên ngoài lại gõ cửa.

“Không ăn thật à?”

“Ngon lắm.”

“Ăn một miếng thôi.”

Giọng nói dần thay đổi.

Từ giọng Trần Đồ biến thành giọng phụ nữ.

Rồi giọng trẻ con.

Cuối cùng biến thành vô số giọng chồng lên nhau.

“Nhận bánh.”

“Trả mạng.”

Bà nội lấy một nắm gạo nếp sống rắc trước cửa.

Tiếng gõ lập tức dừng lại.

Một lát sau, ngoài sân vang lên tiếng bước chân rời đi.

Tôi thở phào.

Nhưng bà nội vẫn không thả lỏng.

Bà kéo tôi vào phòng trong, mở chiếc rương gỗ cũ dưới giường.

Bên trong có một quyển gia phả ố vàng.

Bà lật đến trang cuối.

Ở đó có ghi lại một chuyện cũ.

Sáu mươi năm trước, làng tôi từng gặp đại hạn.

Sông cạn đáy, ruộng đồng nứt nẻ.

Khi ấy, tộc trưởng đời trước nghe lời một đạo sĩ lang thang, nói muốn cầu mưa thì phải hiến một cô gái chưa chồng cho Hà Bá.

Người bị chọn chính là bà cố tôi, Trần Ngọc Lan.

Bà cố không đồng ý.

Nhưng cả làng ép bà lên thuyền.

Họ nói, một người chết đổi cả làng sống, đó là phúc phận của bà.

Bà cố bị đưa xuống sông trong đêm.

Ba ngày sau, trời đổ mưa.

Từ đó, làng lập ra lễ Tết Đoan Ngọ thả bánh chưng tế Thủy thi.

Ngoài mặt là cúng vong hồn chết đuối.

Thật ra là để bịt miệng những oan hồn từng bị làng hiến tế.

Tôi nghe xong, tay chân lạnh buốt.

“Vậy bà cố…”

Bà nội đỏ mắt.

“Không phải Thủy thi nào cũng hại người.”

“Có người chết oan, oán khí không tan.”

“Cũng có người ở dưới nước sáu mươi năm, vẫn âm thầm che chở con cháu.”

Tôi chợt nhớ đến chiếc bánh chưng cuối cùng đã cứu Trần Đồ.

Nhớ đến chuông đồng vang lên khi tôi bị vây trong miếu.

Nhớ đến bài vị Trần Ngọc Lan.

Thì ra bà cố vẫn ở đó.

Bảo vệ tôi.

Bên ngoài lại vang lên tiếng động.

Không phải gõ cửa.

Mà là tiếng người chạy trong ngõ.

Tiếng la hét.

Tiếng khóc.

Bình Luận (0)

Vui lòng Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận...