Ông không nói thêm nữa, quay đầu dặn Xuân Thảo hầm tổ yến cho ta dùng, rồi đi chơi với hai đứa cháu ngoại.
Có lẽ do tâm trạng u uất, hoặc cũng có lẽ đứa nhỏ lần này nghịch hơn bình thường, ta liên tục nôn ói choáng váng, ngày ngày mệt mỏi nằm mê man.
Đại phu kê thuốc, ta uống xong đỡ nôn hơn đôi chút, nhưng tinh thần vẫn uể oải, hoặc là thiếp đi, hoặc là ngồi lặng ngắm trời xanh bên khung cửa.
Hai đứa con rất hiểu chuyện, đọc thơ cho ta nghe, hát ca dỗ dành, còn vẽ tặng ta một bức tranh đáng yêu sống động.
Trong tranh, ta tiều tụy bệnh sắc, nhưng bụng đã nhô lên trông thấy.
Ta ngẩn người, quay sang hỏi:
“Xuân Thảo, ngươi có phát hiện bụng ta lần này… lớn hơn lúc mang thai ba tháng trước kia rất nhiều hay không?”
“Có.” Xuân Thảo gật đầu: “Chắc là tiểu chủ tử lần này béo hơn không.”
Phụ thân có chút bất an, nói: “Ăn chẳng vô, ngủ chẳng yên, bụng lại càng lúc càng lớn, chẳng phải là đứa nhỏ có điều gì bất ổn đó chứ?”
Xuân Thảo lập tức chạy đến hiệu thuốc mời đại phu về khám.
Đại phu bắt mạch một lúc, mỉm cười gật đầu:
“Chủ tử, lần này e rằng là song thai.”
“Thật không?!” Phụ thân mừng rỡ hỏi: “Xác thực?”
Đại phu quả quyết:
“Lấy y thuật của lão hủ mà đoán, đã có chín phần chắc chắn. Nếu chủ tử còn chưa yên tâm, tháng sau ta sẽ đến bắt mạch lại lần nữa.”
Ta vui vẻ khoát tay:
“Không cần, y thuật của ông vốn tinh thông, bản nhân tin tưởng không sai đâu.”
Đại phu ngập ngừng nhắc nhở:
“Chỉ là, chủ tử nên thả lỏng tâm tình, tuyệt chớ quá lo nghĩ. Như vậy mới không tổn hại thân thể, cũng không ảnh hưởng đến thai nhi.”
Ta nhẹ nhàng gật đầu.
Phụ thân như muốn nói lại thôi, đoạn cất lời:
“Con gái ngoan, con muốn thế nào thì cứ làm theo ý mình. Chỉ cần con bình an, thì phụ thân ta đời này chẳng còn điều chi hối tiếc.”
Ta bật cười, ôm lấy cánh tay tròn trịa của ông.
“Cha à, nếu ta thật mang theo bọn trẻ vào kinh tìm hắn, ắt sẽ bị đám quyền quý chê cười là nữ tử phóng túng vô hạnh, chưa cưới mà đã có con. Hai đứa trẻ—không, là bốn đứa—sẽ bị coi là con hoang, đến thân phận ngoại thất cũng không có, làm sao mà sống cho yên?”
Trong lòng ta tuy có yêu thương Triệu Ninh, song đầu óc vẫn tỉnh táo, chưa hề hồ đồ.
Phụ thân xót xa xoa đầu ta, khẽ hỏi:
“Thế con định làm gì? Lại tìm nơi khác trốn tránh sao?”
“Không.
” Ta lắc đầu:
“Nếu hắn thật lòng, dù ta có trốn nơi chân trời góc bể, hắn cũng sẽ tìm được. Có lẽ cả đời này, ta chẳng thể nào sánh vai cùng hắn. Lần này, ta sẽ không trốn nữa. Ta phải nhẫn tâm một phen, đem bài toán khó này giao lại cho hắn.”
Thế là, ta gọi con trai đến, bảo nó vẽ thêm hình đệ đệ và muội muội vào bức họa nhỏ, rồi ký tên bên dưới.
Sáng hôm sau, ta cuộn bức họa thành một dải nhỏ, giao cho bồ câu đưa thư bay đến kinh thành, nhờ chưởng quỹ bên ấy chuyển vào Ninh phủ vương.
Hai mươi ngày sau, ta nhận được thư hồi âm từ chưởng quỹ.
Ông ấy nói tờ giấy nhỏ đã giao tận tay quản gia trong phủ vương gia. Vốn dĩ lúc ấy Ninh vương đang ở trong cung chăm bệnh, nhưng chẳng bao lâu sau đã rời cung đến thương hành hỏi cho ra lẽ.
Chưởng quỹ nói ban đầu ông cũng không hiểu, mãi đến khi thấy chữ ký mới nhận ra là bức họa do trưởng tử nhà ta vẽ.
Ông còn kể, vương gia đứng ngây người hồi lâu, rồi hầm hầm giận dữ bỏ đi một mạch.
Xuân Thảo không nhịn được lầm bầm:
“Tiểu thư, nếu vương gia hiểu lầm đại công tử và tiểu tiểu thư là con của tiểu thư với người khác… thì sao đây?”
Ta bật cười, nhún vai:
“Thế thì hết cách rồi. Đến chút lòng tin căn bản cũng không có, còn dám nhận là tri kỷ chi nhân sao?”
Mười mấy ngày sau, ta nhận được một phong thư gấp, ngựa trạm phi nước đại đưa tới.
Nét chữ cứng cáp, hữu lực, trong tự do mang theo vài phần giận dữ.
Chỉ vài hàng ngắn ngủi, ta lại xem mà tim đập thình thịch, lòng dạ rối bời.
Trưởng tử tò mò hỏi:
“Nương ơi, có chuyện gì mà người lại căng thẳng thế?”
Ta cười gượng:
“Cha con, kẻ tưởng đã chết rồi sống lại, bảo là muốn tìm ta… để tính sổ…”
Nay con trai lớn đã tám tuổi, không thể dễ dàng qua mặt như xưa. Thấy ta đã sinh muội muội, giờ lại mang song thai, nó cứ gặng hỏi cha mình rốt cuộc là ai.
Ta hết cách, đành nói cho nó hay: vị đại tướng dẫn quân chiến thắng lần trước chính là phụ thân ruột của nó.
Tiểu tử ấy lập tức xem Triệu Ninh như anh hùng mà sùng bái, cách vài ba ngày lại hỏi cha bao giờ mới về.
Nó vui mừng reo lên:
“Cha sắp về rồi phải không?!”
Ta gật đầu:
“… Ừm, sắp rồi.”
Nó nghi hoặc:
“Nhưng trong thư toàn là lời mắng chửi, nương ơi, cha chửi người lừa cha nhiều… nhiều… thứ… là sao?”
“Không có! Không có!” Ta cuống quýt xé nát bức thư, mặt đỏ bừng:
Chaporia
Bình Luận (0)