Thời điểm nhân loại biết đến chỉ văn (vân tay) có thể truy ngược về thời kỳ Đồ đá mới, trên những món đồ gốm hơn sáu ngàn năm trước được khai quật tại di chỉ Bán Pha ở Tây Kinh Trường An, người ta đã tìm thấy chỉ văn. Những hoa văn mây sấm khắc trên đồ gốm, đồ đồng xanh được khai quật trong các cuộc khảo cổ, chính là được vẽ dựa theo chỉ văn. Nếu chỉ văn đã được người xưa chú ý từ sớm như vậy, thì trong dòng sông lịch sử dài đằng đẵng, ắt hẳn sẽ có người đi sâu vào nghiên cứu nó.
Trung Hoa được thế giới công nhận là quốc gia đầu tiên ứng dụng chỉ văn. Trong bảo tàng Field ở Chicago nước Mỹ, một khối bùn in dấu thời cổ đại của Trung Hoa đang lặng lẽ được lưu giữ tại đây, mặt trước khối bùn này khắc tên của chủ nhân, mặt sau lại lưu lại một vết in của ngón tay cái.
Thời điểm khối bùn in dấu hiếm hoi này được chế tác thành hình, cách nay đã trọn hai ngàn năm, có thể coi là một trong những dấu vân tay in trên bùn cổ xưa nhất mà nhân loại tìm thấy cho đến nay. Tự nhiên, dấu vân tay này ở đây đại diện cho “chính bản thân chủ nhân con dấu”.
“Hậu Hán thư - Chí đệ cửu - Tế tự hạ” có chép: “Từng nghe Nho gia nói, thời Tam Hoàng không có văn tự, thắt nút dây để cai trị, từ thời Ngũ Đế mới có thư khế. Đến thời Tam Vương, phong tục chuộng văn vẻ chạm trổ, thói dối trá dần hưng khởi, mới có ấn tỷ, để kiểm soát mầm mống gian tà.”
Vào thời Tam Hoàng, con người không sử dụng văn tự, thế là liền áp dụng phương pháp thắt nút dây để ghi chép sự vụ. Mãi đến thời Ngũ Đế, mới sản sinh ra văn thư bằng chứng. Đến thời kỳ Hạ, Thương, Chu, tập tục giáo hóa, điêu khắc vẽ vời văn tự ngày càng phong phú, mà những chuyện dối trá làm giả, ngụy trang mạo danh cũng ngày càng xuất hiện nhiều hơn, thế là mới có tỷ ấn, mục đích là phòng phạm những hành vi gian tà vi phạm pháp luật.
Thời gian trôi đến triều Tần Hán, lúc này chế độ phong nê (niêm phong bằng bùn) đã thịnh hành phổ biến, con người viết chữ lên trúc giản, mộc độc, những bức thư, văn thư được viết thành như vậy cần dùng dây thừng để kết nối và trói buộc, phòng ngừa có kẻ lén lút tháo dỡ. Ở chỗ nút thắt dây thừng sẽ dùng bùn niêm phong lại, sau đó đóng quan ấn hoặc tư ấn lên trên bùn, như vậy một khi bị người ta mở ra, phong nê sẽ rất khó khôi phục nguyên trạng. Có thực vật lịch sử có thể chứng minh, từ Tây Chu đến Tần Hán, ấn chương và chỉ văn có thể vận dụng luân phiên, ấn chương đa phần do người biết chữ sử dụng, hơn nữa việc chế tác cần một khoản chi phí nhất định, bởi vậy bình dân không có ấn chương, liền đóng hai dấu ngón tay lên.
Việc ứng dụng chỉ văn mang ý nghĩa khế ước này ước chừng xuất hiện vào đầu thời Tây Hán, phương pháp sớm nhất, là “họa chỉ” (vẽ ngón tay) trên trúc giản, cách làm là: Do người viết khế ước viết khế văn trước, ở cuối khế ước lần lượt viết ra tính danh của hai bên đương sự, người làm chứng, người trung gian, sau đó những nhân sĩ tương ứng ở dưới tên của mình, theo nguyên tắc nam tả nữ hữu, in vẽ đoạn thẳng có độ dài bằng hai đốt hoặc ba đốt của ngón giữa, ngón trỏ, đồng thời vẽ đường ngang ở vị trí đầu ngón tay, đốt ngón tay, để biểu thị khế ước này là do chính mình ký kết.
Đến thời Đại Đường ta, chỉ văn đã được vận dụng rộng rãi khi ký kết các khế ước dân sự như mua bán điền trạch, hôn nhân gia đình, mua bán nhân khẩu và vay mượn tài vụ. Năm 851, thương nhân Ả Rập Sulaiman trong cuốn “Đại Đường phong tình” do hắn viết có ghi chép thế này: Ở nơi đây, bất luận là ai vay tiền của người khác, đều phải lập giấy vay nợ, người vay nợ phải dùng ngón giữa và ngón trỏ in sóng đôi trên giấy vay nợ; giả dụ hai bên ký kết khế ước, vậy thì chỉ văn của hai bên sẽ in ở chỗ giáp lai của hai tờ giấy.
Mà sau thời Đường, trong danh sách binh đinh, ngục từ, họa cung ở chốn quan phủ, cũng tương tự có ghi chép bằng văn tự cùng thực vật lưu lại lấy dấu vân tay làm chứng. Sau thời Tống, trên khế ước mua bán nhân khẩu và hưu thư ly hôn, càng áp dụng phổ biến cách làm điểm chỉ hoặc in dấu tay.
Có thể thấy, qua các triều đại, chỉ văn làm dấu hiệu ký kết của văn thư khế ước, đều có hiệu lực pháp lý.
Thời cổ đại, còn có một nghề mà việc nghiên cứu chỉ văn đã đạt đến cảnh giới đăng phong tạo cực.
Là nghề nào ư?
Tướng thuật.
Xã hội cổ đại khoa học kỹ thuật chưa phát triển vốn luôn là mảnh đất màu mỡ cho mê tín sinh sôi, bất luận là triều đại nào, bên đường phố thị, đều không thiếu những “bán tiên” bói toán đoán mệnh.
“Ngọc quản chiếu thần cục” của Tống Tề Khâu thời Nam Đường chính là đại diện của tướng thuật cổ đại, nội dung đề cập đến nhiều loại “kỹ thuật đoán mệnh” như tướng tay, tướng mặt, tướng xương.
Tướng thuật lưu truyền rất rộng rãi trong dân gian, theo dã sử ghi chép, chuyện bói toán này sớm nhất có thể truy ngược về thời kỳ Thương Chu. “Thần tướng toàn thiên” do Viên Trung Triệt chỉnh lý có thể coi là tác phẩm tập đại thành của tướng thuật.
Trong “Thần tướng toàn thiên” có một đoạn miêu tả về chưởng văn (vân tay) khiến người ta cảm thấy vô cùng bất khả tư nghị: “Tam tài văn nãi chưởng trung tam đại văn, nhân nhân hữu chi, nãi tại mẫu thai thụ khí thành hình, kình quyền yểm nhĩ nhi thành, thập phân tân khổ. Tự thượng chí hạ, đệ nhất văn cư hỏa, vi thiên văn, chủ căn cơ; đệ nhị văn cư thổ, vi địa văn, chủ tài lộc; đệ tam văn cư minh đường, vi nhân văn, chủ phúc đức.”
Ý nghĩa của nó như sau:
Tam tài văn, cũng chính là ba đường vân lớn nhất trong lòng bàn tay con người, ba đường vân này có thể nói là người người đều có, con người còn chưa ra đời, vẫn còn trong bụng mẹ, tam tài văn đã thành hình, là lúc hài nhi nắm tay che tai tự nhiên hình thành, cho nên vô cùng sâu sắc. Lòng bàn tay từ trên xuống dưới, đường vân thứ nhất trong ngũ hành thuộc hỏa, là thiên văn, phản ánh nền tảng nhân sinh của một người; đường vân thứ hai ngũ hành thuộc thổ, là địa văn, chủ về tài vận, quan lộc trong nhân sinh của người này; đường vân thứ ba nằm trên minh đường, gọi là nhân văn, chủ về phúc khí và đức hạnh của người này.
Cách nói này thực chất mang tính khoa học nhất định, nghiên cứu phôi thai học hiện đại cho thấy, chỉ văn bắt đầu sản sinh khi thai nhi được ba bốn tháng tuổi, đến khi hài nhi khoảng sáu tháng tuổi thì thành hình. Một người bắt đầu từ lúc này, cho đến khi trưởng thành, chỉ văn cũng chỉ lớn lên và thô hơn, nhưng hoa văn lại cả đời không phát sinh thay đổi.
Kết quả nghiên cứu bằng thiết bị kỹ thuật cao hiện đại, lại không hẹn mà hợp với kết luận của người xưa, điều này đủ khiến người ta khiếp sợ. Còn về việc người xưa đã dùng phương pháp gì mới rút ra được kết luận chuẩn xác như vậy, trước mắt vẫn là một câu đố chưa ai biết đến.
Cảm thấy thần kỳ chăng?
Nói cho ngươi hay, điều thần kỳ vẫn còn ở phía sau. Nếu chỉ là nghiên cứu lý luận, thì chưa tính là gì, người xưa lợi hại nhất, là đã đem kỹ thuật chỉ văn ứng dụng vào trong y thuật từ rất sớm.
Thái y triều Thanh là Ngô Khiêm cùng những người khác đã biên soạn “Y tông kim giám”, ở quyển thứ năm mươi của cuốn sách này, các y sư nhắc đến một phương pháp kết hợp chỉ văn, tiến hành chẩn đoán đối với trẻ nhỏ dưới ba tuổi, tên gọi “Nhất chỉ định tam quan”.
Trung y chia cơ thể người thành nhiều “kinh lạc”, chỉ văn trên tay thuộc mạch lạc ở rìa quay ngón trỏ, thuộc thủ thái âm phế kinh, là một nhánh trong đó. Trạng thái của chỉ văn sẽ phản ánh mạch lạc tương quan, thông qua việc quan sát trạng thái mà chỉ văn biểu hiện ra, kết hợp với mạch tượng liền có thể chẩn đoán tật bệnh.
Do bộ vị cổ tay của trẻ em ngắn nhỏ, thêm vào đó khi vấn chẩn trẻ em cũng thường xuyên khóc lóc ầm ĩ, ảnh hưởng đến mạch tượng, cho nên bắt mạch cho trẻ em, thường chẩn đoán không chuẩn. May thay, da dẻ của trẻ em mịn màng, huyết mạch dưới da dễ dàng bộc lộ, mà bệnh chứng của huyết mạch còn biểu hiện trên chỉ văn, cho nên đối với hài đồng dưới ba tuổi, Trung y cổ đại thường sẽ kết hợp sự biến hóa của chỉ văn để tiến hành phụ trợ chẩn đoán.
Bọn họ cho rằng, chỉ văn có ba ải “Phong”, “Khí”, “Mệnh”, trong đó chỉ văn ở đốt ngón trỏ sát lòng bàn tay là “Phong quan”, chỉ văn ở đốt giữa là “Khí quan”, chỉ văn ở đốt xa nhất chính là “Mệnh quan”.
Khi chẩn đoán, phải bế đứa trẻ mắc bệnh đến nơi sáng sủa, đại phu dùng ngón trỏ và ngón cái tay trái nắm lấy đầu ngón trỏ của đứa trẻ mắc bệnh, đồng thời dùng ngón cái tay phải ở mặt lòng bàn tay ngón trỏ của đứa trẻ, bắt đầu từ Mệnh quan, hướng về Khí quan, Phong quan đẩy đi đẩy lại vài lần, chỉ cần dùng lực thỏa đáng, chỉ văn sẽ hiển hiện càng thêm rõ ràng, thuận tiện quan sát.
Nếu chỉ văn nổi mà rõ ràng, bệnh tình khá nông; chỉ văn chìm khuất không rõ, bệnh tình có thể thâm nhập trong cơ thể; đường vân mảnh mà màu sắc nhạt, đa phần là hư chứng; đường vân thô mà màu sắc đậm đặc, có thể chẩn đoán chính xác là thực chứng. Ngoài ra, nếu màu sắc đường vân thoạt nhìn là đỏ tươi, thì thuộc về phong hàn lây nhiễm ngoài cơ thể; nếu màu sắc đường vân thoạt nhìn là đỏ tía, đa phần thuộc về triệu chứng phát nhiệt trong cơ thể; nếu màu sắc đường vân thoạt nhìn là màu xanh, xác suất lớn là phong chứng hoặc thống chứng; màu sắc đường vân là xanh tím hoặc tím đen, khả năng cực lớn là huyết mạch tắc nghẽn; khi màu sắc đường vân xuất hiện màu trắng nhạt, về cơ bản có thể phán đoán là tỳ hư.
Dựa vào văn tự và thực vật có thể biết, người quốc gia ta ngay từ hơn hai ngàn hai trăm năm trước, đã lợi dụng chỉ văn tiến hành hoạt động trinh sát rồi.
Đây là một thời điểm đặc biệt: Tháng 12 năm 1975.
Chính vào năm này, trong mộ Tần ở Thụy Hổ Địa huyện Vân Mộng tỉnh Hồ Bắc có lượng lớn trúc giản được khai quật. Trên trúc giản dùng mực viết lệ thư triều Tần, bên trong ghi chép chế độ pháp luật, văn thư hành chính, trứ tác y học cùng với sách bói toán về ngày giờ cát hung từ cuối thời Chiến Quốc cho đến thời kỳ Tần Thủy Hoàng.
Trúc giản mộ Tần Thụy Hổ Địa tổng cộng 1155 thẻ, trong đó bao gồm 80 mảnh vỡ, người đời sau đem chúng phân loại chỉnh lý thành 10 phần, phân biệt là: “Tần luật thập bát chủng”, “Hiệu luật”, “Tần luật tạp sao”, “Pháp luật đáp vấn”, “Phong chẩn thức”, “Biên niên ký”, “Ngữ thư”, “Vi lại chi đạo” cùng với “Nhật thư” loại Giáp và loại Ất.
Trong đó “Ngữ thư”, “Hiệu luật”, “Phong chẩn thức”, “Nhật thư” đều là tiêu đề sách gốc, mà tiêu đề của mấy phần khác đều là do người đời sau khi chỉnh lý tự đặt ra.
Trong đó, phần “Phong chẩn thức” chiếm 98 thẻ, nội dung là yêu cầu tương quan khi quan lại thẩm lý vụ án, cùng với trình thức văn thư xử lý theo trình tự như điều tra, khám tra hiện trường, thẩm vấn đối với các loại vụ án. Nói một cách đơn giản, nội dung chủ yếu của nó chính là quy phạm kỹ thuật hình sự khi điều tra vụ án, đem hiện trường phạm tội phong tỏa lại, rồi cẩn thận tiến hành khám tra hiện trường.
Giản văn tổng cộng chia làm 25 tiết, đầu thẻ thứ nhất của mỗi tiết đều viết tiểu tiêu đề, bao gồm “Trị ngục”, “Tấn ngục”, “Phong thủ”, “Hữu cúc”, “Phúc”, “Đạo tự cáo”, “Khẩu bộ”, “Đạo mã”, “Tranh ngưu”, “Quần đạo”, “Đoạt thủ”, “Cáo thần”, “Kình thiếp”, “Thiên tử”, “Cáo tử”, “Lệ”, “Tặc tử”, “Kinh tử”, “Huyệt đạo”, “Xuất tử”, “Độc ngôn”, “Gian”, “Vong tự xuất”, còn có hai tiểu tiêu đề do nét chữ mờ mịt mà không thể nhận diện.
Trong đó tiết “Huyệt đạo” có ghi chép về việc ứng dụng chỉ văn: “Nội trung cập huyệt trung ngoại nhưỡng thượng hữu tất, thủ tích, tất, thủ các lục sở.”
Ý nghĩa là: Trong phòng cùng với trên đất trong ngoài lỗ hổng có dấu đầu gối và dấu tay, phân biệt có sáu chỗ.
Phần ghi chép này cho thấy, ngay từ triều Tần, dấu tay trong việc trinh sát phá án đã trở thành một trong những chứng cứ trọng yếu. Đến triều Đường, các loại kỹ thuật giám định chỉ văn ngày càng thành thục, trên rất nhiều văn thư như khế ước, di chúc được khai quật thời Đường đều có thể tìm thấy dấu vết của chỉ văn, vân đốt ngón tay hoặc chưởng văn. Trong các triều đại về sau, cũng đều tiếp tục sử dụng thói quen lấy chỉ văn, chưởng văn giám biệt thật giả trên văn thư.
Năm 1927, người Đức Robert Heindl liền nhắc đến trong cuốn sách “Giám định chỉ văn” của ông ta rằng, Giả Công Ngạn triều Đường của Trung Hoa, là học giả đầu tiên trên thế giới đưa ra việc dùng chỉ văn nhận diện con người, ông ta ngay từ năm Vĩnh Huy nguyên niên thời Đường Cao Tông (năm 650), đã nhìn thấy đặc trưng và công dụng của chỉ văn.
Việc mở rộng ứng dụng kỹ thuật chỉ văn, nương theo sự phát triển của văn minh lịch sử. Người xưa đi lính phải lập danh sách, loại danh sách này gọi là “Cơ đẩu sách”, ngoại trừ ghi chép tên tuổi, tuổi tác, địa chỉ gia đình của binh sĩ ra, còn phải điểm chỉ văn của hắn lên để lưu giữ, trên danh sách cũng có giới thiệu tường tận về phương thức phương pháp nhận diện chỉ văn.
Do phương thức này vô cùng có lợi cho việc quản lý nhân khẩu, có thể phòng ngừa hữu hiệu việc mạo danh thế chỗ, vào triều Thanh, liền tiến thêm một bước mở rộng đến các châu huyện, từng bước kiến lập nên “kho dữ liệu chỉ văn cổ đại” khá hoàn bị, loại tư liệu lưu trữ này do người chuyên trách quản lý. Nói cách khác, chỉ cần tội phạm trong thời gian phạm tội không cẩn thận lưu lại chỉ văn, quan phủ chỉ cần đem chỉ văn hắn lưu lại thác ấn xuống, gửi đến các châu huyện xung quanh tiến hành đối chiếu, liền rất nhanh có thể khóa chặt án phạm, điều này giống hệt như hệ thống đối chiếu kho dữ liệu chỉ văn sử dụng trong trinh sát hiện đại.
Mà do tính độc đáo và tính quy luật của chỉ văn, thời cổ đại cố nhiên không có thiết bị nhận diện chỉ văn tiện lợi như hiện tại, nhưng chỉ cần trải qua đào tạo kỹ thuật chỉ văn chuyên nghiệp, tỷ lệ chuẩn xác của việc đối chiếu chỉ văn thậm chí có thể đạt tới trên 95%.
Theo ghi chép, thời cổ đại, phương pháp so sánh chỉ văn có bốn loại.
Loại thứ nhất, mục trắc pháp (phương pháp nhìn bằng mắt). Cái này rất dễ hiểu, chính là trực tiếp dùng mắt thường để nhìn.
Loại thứ hai, điệp gia pháp (phương pháp xếp chồng). Lấy một tờ giấy, in một cái chỉ văn, sau đó đem chỉ văn này cùng với chỉ văn cần đối chiếu xếp chồng lên nhau, xem có trùng khớp hay không.
Loại thứ ba, thấu quang pháp (phương pháp soi sáng). Đây là phương pháp đối chiếu chỉ văn cũ, trong ám thất lợi dụng nguồn sáng, xuyên qua giấy dầu trong suốt quan sát luân khuếch chỉ văn. Đường vân rõ ràng, có thể trực tiếp vẽ ra; đường vân mờ mịt, thì xếp chồng đối chiếu. Như vậy liền có thể đạt được toàn mạo chỉ văn của tội phạm.
Loại thứ tư, tê tiếp pháp (phương pháp xé ghép). Đem tờ giấy in chỉ văn mới xé ra, sau đó đem một phần chỉ văn trên tờ giấy đã xé cùng với chỉ văn cần đối chiếu tiến hành tiếp hợp. Nếu đường nét chỉ văn sau khi tiếp hợp là hoàn chỉnh, liền chứng minh là chỉ văn của cùng một người; nếu không thể tiếp hợp, thì chứng minh đây không phải là chỉ văn của cùng một người.
Từ đó phát triển ra ba phương pháp trích xuất chỉ văn.
Loại thứ nhất, cáp khí pháp (phương pháp hà hơi). Nếu tại hiện trường nhìn thấy vật nào đó có thể lưu giữ chỉ văn, trực tiếp hà hơi liền có thể dùng mắt thường phân biệt.
Loại thứ hai, Bố hôi pháp. Đem than bột sau khi đốt nghiền nát, rắc lên trên chỉ văn, dùng miệng thổi hoặc dùng lông thỏ nhẹ nhàng phủi qua, liền có thể nhìn thấy chỉ văn. Phương pháp này thời cổ đại còn thích dụng cho việc trích xuất túc tích (dấu chân), phía sau sẽ tiến hành giới thiệu, hiện tại tạm thời không bàn. Phương pháp này, thực chất chính là hình hài ban đầu của phương pháp quét hiển thị chỉ văn trong kỹ thuật hình sự hiện đại.
Loại thứ ba, Yên huân pháp. Phương pháp này thích dụng cho hiện trường trong nhà cỡ lớn. Người xưa khi sử dụng cáp khí pháp quan sát chỉ văn, thực chất đã biết chỉ văn mồ hôi cũ có thể hút nước trở nên rõ ràng. Người xưa tuy không biết nguyên lý, nhưng đã biết rõ sự thực này. Thời cổ đại, khi khám tra hiện trường trong nhà cỡ lớn, nhân viên khám tra nếu không biết hiềm nghi nhân từng chạm vào những nơi nào, liền sẽ đóng kín cửa nẻo, ở trong phòng dùng than củi đun sôi nước, đợi sau khi độ ẩm trong phòng tăng lên, lại dập tắt lửa lò, để hạt khói bụi bay lơ lửng trong phòng. Khi bụi bặm gặp phải chỉ văn ẩm ướt, chỉ văn liền sẽ hiển hiện.
Ngoài ra, còn có phương pháp dùng nhựa cây làm hiển thị chỉ văn máu, chỉ là ghi chép trong dã sử, trong bộ tiểu thuyết này cũng từng nhắc đến.
So với chỉ văn, túc tích càng thêm trực quan. Ngay từ thời kỳ viễn cổ, tổ tiên của chúng ta đã nắm giữ phương pháp lợi dụng túc tích dã thú truy bắt con mồi. Truy ngược lịch sử, quốc gia ta là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới đem túc tích ứng dụng vào phá án hình sự.
“Phong chẩn thức - Huyệt đạo” nhắc đến phía trước, nguyên văn ghi chép như sau: “Nội trung cập huyệt trung ngoại nhưỡng thượng hữu tất, thủ tích, tất, thủ các lục sở. Ngoại nhưỡng Tần kỳ lý tích tứ sở, mậu xích nhị thốn. Kỳ tiền trù kỳ mậu tứ thốn, kỳ trung ương hy giả ngũ thốn, kỳ (chủng) trù giả tam thốn. Kỳ lý tích loại cố lý.”
Ý nghĩa như sau:
Trong phòng cùng với trên đất trong ngoài lỗ hổng có dấu đầu gối và dấu tay, phân biệt có sáu chỗ. Trên đất ngoài nhà có dấu giày do Tần kỳ lý lưu lại bốn chỗ, dài một thước hai tấc. Hoa văn phần trước dấu giày dày đặc, dài bốn tấc; hoa văn phần giữa thưa thớt, dài năm tấc; hoa văn phần gót dày đặc, dài ba tấc. Dấu giày thoạt nhìn giống như do giày cũ lưu lại.
Từ đó có thể thấy, ngay từ triều Tần hơn hai ngàn năm trước, con người đã đem túc tích làm manh mối và chứng cứ trinh phá vụ án, đồng thời đã bắt đầu nghiên cứu đặc trưng kết cấu của túc tích mang giày.
Năm Thiên Khải thứ sáu triều Minh (năm 1626), xuất hiện một cuốn cổ tịch mang tên “Trí nang toàn tập”, sau khi tăng bổ, toàn thư tổng cộng thu lục 1061 câu chuyện trí nang qua các triều đại từ Tiên Tần trở xuống đến triều Minh, nhân vật nhắc đến trong sách, đa phần vận dụng trí tuệ và mưu lược sáng tạo lịch sử. Nó là kỳ thư xử thế kể về việc người xưa quốc gia ta vận dụng sự thông minh tài trí khéo léo giải quyết khó khăn, khắc địch chế thắng, cũng là một bộ sách trí mưu có thiên phúc khổng lồ trong lịch sử văn hóa quốc gia ta.
Trong đó, thiên “Dương Vũ” có ghi chép thế này:
Thiêm đô Ngự sử Dương Bắc Sơn công tên Vũ, là anh rể của Khang Đức Hàm vùng Quan Trung, làm Tri huyện Tri Xuyên, giỏi dùng mưu kỳ.
Trong ấp có kẻ trộm gạo tắc của thương nhân ở chợ, tìm mãi không được. Công bắt giữ mấy chục người hàng xóm của hắn, bắt quỳ ở sân, mà thong thả xử lý sự vụ khác không hỏi han. Lát sau bỗng lệ thanh nói: “Ta bắt được kẻ trộm gạo rồi!” Trong đó có một người biến sắc hồi lâu. Lại lệ thanh nói lại, người nọ càng thêm biến sắc. Công chỉ vào hắn nói: “Hàng thứ mấy người thứ mấy là kẻ trộm gạo.” Người nọ bèn nhận tội.
Lại có kẻ trộm dưa trong điền viên, đêm đó mưa to gió lớn, rễ dây leo đều đứt sạch. Công nghi ngờ là cừu gia của hắn, bèn lệnh in lấy túc tích của kẻ trộm đêm, rải tro ở sân, bắt đinh tráng trong thôn, lệnh giẫm lên trên, mà nói: “Kẻ nào dấu chân trùng khớp chính là kẻ trộm!” Người cuối cùng trằn trọc có sắc mặt khó khăn, vả lại thở dốc rất gấp. Công bắt lấy mà thẩm vấn, quả nhiên là cừu gia mà trộm cắp, dưa quả vẫn còn y nguyên ở đó.
Ý nghĩa như sau:
Thiêm đô Ngự sử Dương Bắc Sơn, tên đơn là Vũ, là anh rể của Khang Đức Hàm vùng Quan Trung, nhậm chức Tri huyện Tri Xuyên, hắn người này giỏi dùng kỳ tư diệu kế. Một lần nọ, trong thành xảy ra chuyện thương hộ bán gạo bị mất trộm, trước sau không bắt được tiểu tâu. Dương công liền hạ lệnh đem mấy chục gã hàng xóm của khổ chủ toàn bộ đưa đến phủ nha hỏi chuyện. Khi đám người này được đưa đến nha môn, Dương công bắt bọn họ toàn bộ quỳ trong đình viện, mà bản thân lại thong thả xử lý công văn khác, hoàn toàn không để ý đến bọn họ. Qua một lát, chỉ nghe Dương công lệ thanh nói: “Ta đã biết gã trộm gạo kia là ai rồi!” Lúc này trong đám người quỳ dưới sân, có một người nghe vậy thần sắc đại biến. Không lâu sau, Dương công lại lệ thanh lặp lại một lần, thần sắc người nọ càng thêm kinh hoảng. Dương công liền chỉ vào hắn nói: “Hàng thứ mấy người thứ mấy chính là kẻ trộm gạo.” Người nọ nghe xong, rất nhanh liền thừa nhận tội hành của mình.
Lại có một lần, xảy ra một vụ án trộm dưa trong điền viên, đêm đó gió rất lớn, mưa rất to, rễ lá dây leo trong ruộng dưa đều bị người ta nhổ tận gốc, cái gì cũng không lưu lại. Dương công nghi ngờ là cừu gia của viên chủ làm, liền sai thủ hạ thu thập dấu chân kẻ trộm dưa lưu lại, lại rải tro mịn trong sân, bắt tráng đinh trong thôn từng người một đi qua trên tro, đồng thời nói: “Nếu dấu chân tương hợp, người đó chính là tặc trộm dưa!” Gã tráng đinh cuối cùng luôn mượn cớ thoái thác, đồng thời hô hấp dồn dập, Dương công đương trường tóm lấy người này thẩm vấn, quả nhiên là hành vi trộm cắp phát sinh do hai nhà có thù khích, dưa quả mà người này trộm được, toàn bộ chất đống trong nhà.
Rất hiển nhiên, câu chuyện này, chính là một sử liệu có ghi chép, về án lệ kiểm nghiệm và trích xuất túc tích. Phương pháp trích xuất này hoàn toàn không phức tạp, trong dân gian, con người do trường kỳ tiến hành các hoạt động sản xuất như chăn thả, săn bắn, đã không ngừng tích lũy được kỹ thuật truy tung túc tích phong phú. Điều này khiến bọn họ có thể căn cứ vào dấu vết để lại tìm thấy gia súc đi lạc, bỏ chạy và phần tử phạm tội ẩn nấp.
Xa xôi tạm thời không nói, Túc tích học thái đẩu Mã Ngọc Lâm tiền bối của quốc gia chúng ta chính là đại diện của những người nghiên cứu túc tích học. Ông sinh năm 1906, qua đời năm 1981. Thuở nhỏ nhà nghèo, ông từ 10 tuổi đã làm thuê làm mướn cho nhà tài chủ, chăn cừu, khi chăn cừu luyện tập bản lĩnh biện tung (nhận diện dấu vết), truy tung.
Tuy chưa từng đọc sách, nhưng ông rất thông minh. Ông lấy thể hình, độ béo gầy, màu lông của cừu làm căn cứ, trải qua thời gian dài quan sát, so sánh, nghiền ngẫm, luyện ra một thân ngạnh công phu nhìn dấu móng liền có thể liên tưởng ra đặc trưng thể thái của cừu. Cho nên khi chăn cừu ông rất ít khi đếm số lượng, chỉ cần đi theo sau bầy cừu nhìn dấu móng, liền biết có cừu đi lạc hay không, con bị mất là con nào.
Khi có cừu đi lạc, ông liền nương theo dấu móng mà truy tung, bất luận xa gần, chắc chắn có thể tìm về. Từ đó, ngoại trừ thường xuyên tìm về cừu lạc của nhà mình ra, ông còn thường giúp đỡ hương thân tìm về gia súc bị mất. Trải qua thực tiễn mã tung (lần theo dấu vết) trường kỳ, trong đầu ông tích lũy một bộ kinh nghiệm biện tung hoàn chỉnh, từ tình huống nặng nhẹ, dáng đi, sải bước, mép ảo, áp lực, mang theo đất của túc tích, liền có thể phân tích ra giới tính, chức nghiệp, thói quen, tuổi tác, đặc trưng thân thể của con người, hơn nữa còn mày mò ra phương pháp biện tích truy tung trên đất cát, đất cứng, bãi cỏ, trên mặt nước, đất sỏi đá, trên tuyết, trong nước sông, trên mặt đường ngày mưa, nắm giữ kỹ thuật truy tung bộ pháp khá hoàn chỉnh.
Thời cổ đại, liệu có người nghiên cứu tương tự Mã Ngọc Lâm tiền bối chăng?
Không chỉ có, mà còn không ít.
Trong “Tuân Tử - Khuyến học thiên” lừng danh có một câu “Bất tích quỷ bộ, vô dĩ chí thiên lý”, ý là: Không có sự tích lũy bắt đầu từ từng bước một, là không thể nào đến được nơi xa ngàn dặm. Thời cổ đại lấy bước ra một chân là quỷ, lại bước ra một chân là bộ. Nó là nền tảng của nghiên cứu truy tung bộ pháp.
Trong “Thượng thư - Mục thệ” có ghi chép thế này: “Kim nhật chi sự, bất khiên vu lục bộ, thất bộ, nãi chỉ, tề yên. Phu tử úc tai! Bất khiên vu tứ phạt, ngũ phạt, lục phạt, thất phạt, nãi chỉ, tề yên.”
Ý nghĩa là: Trận chiến hôm nay, khoảng cách trước sau của trận liệt không được vượt quá sáu bước, bảy bước, phải lệnh hành cấm chỉ, bảo trì chỉnh tề. Tướng sĩ, cùng cố gắng! Không vượt quá bốn, năm, sáu, bảy hiệp giao chiến, đáng dừng thì dừng, phải bảo trì chỉnh tề.
Hiển nhiên, người thời bấy giờ đã đem đặc trưng bộ pháp ứng dụng vào huấn luyện quân sự.
Còn có một thành ngữ mọi người đều quen thuộc “Hàm Đan học bộ”, nó xuất phát từ “Trang Tử - Thu thủy”, nguyên văn là: “Tử vãng hô! Thả tử độc bất văn phu Thọ Lăng dư tử chi học hành vu Hàm Đan dữ? Vị đắc quốc năng, hựu thất kỳ cố hành hĩ, trực bồ bạt nhi quy nhĩ. Kim tử bất khứ, tương vong tử chi cố, thất tử chi nghiệp.”
Câu chuyện này kể về một thiếu niên ở Thọ Lăng nước Yên thời Chiến Quốc, bởi vì tư thế đi đường của người Hàm Đan nước Triệu vô cùng ưu mỹ, thế là không quản ngại đường xa ngàn dặm chạy đến Hàm Đan học người bản địa đi đường. Nhưng hắn không những không học được cách đi đường giống người Hàm Đan, ngay cả tư thế đi đường vốn có của mình cũng quên mất, cuối cùng đành phải bò về.
Đoạn văn này chứng minh, người xưa từ rất sớm đã bắt đầu tiến hành nghiên cứu bộ pháp. Mà những ví dụ cổ đại tương tự đem túc tích dùng vào phá án, ngoại trừ “Phong chẩn thức” ra, có thể nói là nhiều không đếm xuể.
Việc ứng dụng dấu vết công cụ, ước chừng trước thế kỷ 9 Công nguyên đã nhận được sự phát triển. Nương theo xã hội nguyên thủy từ thời kỳ Đồ đá cũ, thời kỳ Đồ đá mới đến thời kỳ Đồ sắt từng bước phát triển, công cụ mà người viễn cổ sử dụng cũng từ chế phẩm bằng đá, chế phẩm bằng gỗ, dần dần phát triển đến chế phẩm bằng sắt, chế phẩm bằng đồng xanh vân vân. Cùng lúc đó, dấu vết công cụ trong trinh sát phá án, tần suất xuất hiện cũng dần dần tăng cao.
“Phong chẩn thức - Huyệt đạo” ghi chép: “Nội hậu hữu tiểu đường, nội trung ương hữu tân huyệt, huyệt triệt nội trung. Huyệt hạ tề tiểu đường, thượng cao nhị xích tam thốn, hạ quảng nhị xích ngũ thốn, thượng như trư đậu trạng. Kỳ sở dĩ thục giả loại bàng tạc, tích quảng □ thốn đại bán thốn.”
Ý nghĩa như sau:
Phía sau trong phòng có một tiểu đường, chính giữa tường có một lỗ hổng mới đào, lỗ hổng thông vào trong phòng. Đáy lỗ hổng bằng phẳng với mặt đất tiểu đường, phía trên cao hai thước ba tấc, phía dưới rộng hai thước năm tấc, phía trên giống hình dạng chuồng lợn. Công cụ dùng để đào lỗ hổng giống như đục lưỡi rộng, dấu vết đục rộng hai (?) lại hai phần ba tấc.
Còn có một tiết ghi chép mà tiểu tiêu đề không thể nhận diện: “□□ mỗ viên thư: Mỗ lý sĩ ngũ Giáp, công sĩ Trịnh tài (tại) mỗ lý viết Bính cộng nghệ trảm thủ nhất, các cáo viết: ‘Giáp, Bính chiến Hình Khâu thành, thử Giáp, Bính đắc thủ dã, Giáp, Bính tương dữ tranh, lai nghệ chi.’ Chẩn thủ □ phát, kỳ hữu giác vĩ nhất sở, mậu ngũ thốn, thâm đáo cốt, loại kiếm tích; kỳ đầu sở bất tề tàn tàn nhiên. Dĩ thư quyên thủ viết: ‘Hữu thất ngũ cập (trì) bất lai giả, khiển lai thức hí thứ.’“
Ý nghĩa như sau:
Sĩ ngũ Giáp, Bính ở mỗ lý thuộc vùng Trịnh cùng nhau báo cáo nói chém được một thủ cấp, phân biệt báo cáo nói: “Giáp, Bính tác chiến ở thành Hình Khâu, đây là thủ cấp do hai người thu được, Giáp, Bính tranh giành nhau, đều nói là đầu do mình chém, cho nên đành phải thượng cáo.” Kiểm nghiệm thủ cấp, tóc ngắn, nhìn thấy trên góc trán phải có một vết thương, dài năm tấc, sâu đến xương, giống như dấu vết của kiếm. Phần cổ bị cắt đứt ngắn mà không chỉnh tề. Dùng văn thư trưng cầu, nhận diện thủ cấp nói: “Nếu có kẻ rớt đội, đến muộn, phái đến nơi đóng quân nhận diện.”
Trên đây là án lệ lợi dụng đặc trưng dấu vết công cụ để suy đoán chủng loại công cụ.
Pháp y học gia trứ danh thời Nam Tống là Tống Từ từng viết một bộ pháp y trứ tác vang danh trên đời, tên là “Tẩy oan tập lục”. Trong đó, thiên “Tha vật thủ túc thương tử” trong quyển chi tứ có ghi chép thế này:
Luật vân: Kiến huyết vi thương. Phi thủ túc giả, kỳ dư giai vi tha vật, tức binh bất dụng nhận, diệc thị.
Thương tổn điều hạn: Thủ túc thập nhật, tha vật nhị thập nhật.
Đấu tụng sắc: Chư niết nhân giả, y “tha vật pháp”.
Nguyên Phù sắc “Thân minh hình thống”: Dĩ ngoa hài thế nhân thương, tòng quan tư nghiệm định, kiên ngạnh tức tòng tha vật, nhược bất kiên ngạnh, tức nan tác tha vật lệ.
Hoặc ngạch, trửu, tất tát, đầu chàng trí tử, tịnh tác tha vật ngân thương.
Chư tha vật thị thiết tiên, xích, phủ đầu, đao bối, mộc can bổng, mã tiên, mộc sài, chuyên, thạch, ngõa, thô bố hài, nạp để hài, bì hài, thảo hài chi loại.
Ý nghĩa như sau:
Trên luật nói: Thấy máu liền có thể coi là bị thương, ngoại trừ tay chân đánh đá ra, phần còn lại đều là do tha vật (vật khác) gây thương tích, cho dù binh khí không dùng phong nhận (lưỡi sắc) gây ra cũng tính.
Thời hạn đảm bảo trách nhiệm pháp định của thương tổn phân biệt là: Vết thương do tay chân là mười ngày, vết thương do tha vật là hai mươi ngày.
Đấu tụng sắc văn: Phàm là kẻ cắn người, y theo “tha vật pháp” xử lý.
Nguyên Phù sắc “Thân minh hình thống”: Dùng giày ủng đá người, do quan lại kiểm nghiệm để xác định, nếu giày ủng đá người khá cứng rắn, liền theo “tha vật” xử lý; nếu không quá cứng rắn, liền rất khó làm theo lệ “tha vật” để xử trí.
Dùng trán, cùi chỏ, đầu gối đè ép, cùng với dùng đầu húc loại dùng chỗ cứng trên cơ thể dẫn đến tử vong này, cũng có thể coi là ngân thương (vết thương) do “tha vật”.
Cái gọi là tha vật chỉ chính là: Roi sắt, thước, búa, sống đao, gậy gỗ, roi ngựa, củi gỗ, gạch, đá, ngói, giày vải thô, giày khâu đế, giày da, giày cỏ các loại.
Đoạn văn này chứng minh, người xưa thời bấy giờ, đối với dấu vết công cụ đã có sự phân loại hệ thống.
Trong tiết “Sát thương”, Tống Từ còn nhấn mạnh: “Phàm nghiệm sát thương, tiên khán thị dữ bất thị đao nhận đẳng vật, cập sinh tiền tử hậu ngân thương. Như sinh tiền bị nhận thương, kỳ ngân nhục khoát, hoa văn giao xuất; nhược nhục ngân tề tiệt, chỉ thị tử hậu giả tác nhận thương ngân.”
Ý nghĩa như sau:
Chỉ cần là kiểm nghiệm vết thương do duệ khí (vật sắc nhọn), trước tiên xem có phải bị thương bởi lưỡi đao hay không, cùng với phán đoán là vết thương trước khi chết hay sau khi chết. Nếu trước khi chết bị duệ khí làm bị thương, dấu vết có thể thấy da thịt mở rộng, hoa văn miệng vết thương đan xen; giả dụ vết thịt khá chỉnh tề, có thể phán đoán là vết thương do duệ khí ngụy tạo sau khi chết.
Rất hiển nhiên, quan viên phá án năm xưa đã vô cùng chú trọng giá trị của dấu vết công cụ, đồng thời liệt nó vào một trong những vật chứng chủ yếu.
Lão tổ tông từ mấy ngàn năm trước đã sáng tạo ra văn tự, mà do việc sử dụng và mở rộng văn tự, những vụ án lấy văn tự làm thủ đoạn phạm tội, cùng với tranh chấp dân gian do văn tự gây ra cũng theo đó mà xuất hiện.
“Sử ký - Hiếu Vũ bản kỷ” ghi chép: “Tề nhân Thiếu Ông dĩ quỷ thần phương kiến thượng. Thượng hữu sở hạnh Vương phu nhân, phu nhân tốt, Thiếu Ông dĩ phương thuật cái dạ trí Vương phu nhân cập táo quỷ chi mạo vân, thiên tử tự duy trung vọng kiến yên. Ư thị nãi bái Thiếu Ông vi Văn Thành tướng quân, thưởng tứ thậm đa, dĩ khách lễ lễ chi. Văn Thành ngôn viết: ‘Thượng tức dục dữ thần thông, cung thất bị phục bất tượng thần, thần vật bất chí.’ Nãi tác họa vân khí xa, cập các dĩ thắng nhật giá xa tích ác quỷ. Hựu tác Cam Tuyền cung, trung vi đài thất, họa thiên, địa, thái nhất chư thần, nhi trí tế cụ dĩ trí thiên thần. Cư tuế dư, kỳ phương ích suy, thần bất chí. Nãi vi bạch thư dĩ phạn ngưu, tường phất tri dã, ngôn thử ngưu phúc trung hữu kỳ. Sát nhi thị chi, đắc thư, thư ngôn thậm quái, thiên tử nghi chi. Hữu thức kỳ thủ thư, vấn chi nhân, quả ngụy thư. Ư thị tru Văn Thành tướng quân nhi ẩn chi.”
Ý nghĩa như sau:
Người đất Tề là Thiếu Ông, hiểu được phương thuật thông quỷ thần, lấy đó bái kiến bệ hạ. Vương phu nhân mà bệ hạ vô cùng sủng ái qua đời, Thiếu Ông dùng phương thuật vào ban đêm gọi Vương phu nhân cùng táo quỷ đến, thiên tử từ trong duy trướng nhìn thấy quả thực là dung nhan của cố nhân, bởi vậy bái Thiếu Ông làm Văn Thành tướng quân, ban thưởng rất nhiều đồ vật, đối với hắn cực kỳ cung kính hữu lễ. Văn Thành nói: “Bệ hạ nếu muốn qua lại với thần minh, vậy thì cung thất, chăn áo không giống với thần dùng, thần minh sẽ không đến.” Thế là chế tạo xe vẽ mây khí, mỗi chiếc dùng ngày thắng giá xe xua đuổi ác quỷ; lại hưng kiến Cam Tuyền cung, ở giữa là đài thất, vẽ các thần minh như Thiên Nhất, Địa Nhất, Thái Nhất, bày biện tế khí để triệu hoán thiên thần. Qua hơn một năm, phương thuật của Thiếu Ông lại ngày càng kém, thần tiên hoàn toàn không đến. Thiếu Ông thế là viết bạch thư (thư viết trên lụa) cho bò ăn, làm ra vẻ không biết tình hình, nói trong bụng con bò này có sự quái dị. Giết bò xem trong bụng, quả nhiên được bạch thư, trên thư nói vô cùng quái đản, thiên tử sinh lòng nghi ngờ, lại từ nét chữ nhận ra người chấp bút viết, tra khảo người này xong, nhìn thấy quả nhiên là ngụy thư, thế là tru sát Văn Thành tướng quân, đối với chuyện này bí mật không tuyên bố.
Đây là ví dụ sớm nhất về giám định bút tích có sử liệu ghi chép xác thực của quốc gia ta.
Mà “Tam quốc chí - Ngụy thư - Quốc Uyên truyện” ghi chép: “Thời hữu đầu thư phỉ báng giả, Thái Tổ tật chi, dục tất tri kỳ chủ. Uyên thỉnh lưu kỳ bản thư, nhi bất tuyên lộ. Kỳ thư đa dẫn ‘Nhị kinh phú’, Uyên sắc công tào viết: ‘Thử quận ký đại, kim tại đô liễn, nhi thiếu học vấn giả. Kỳ giản khai giải niên thiếu, dục khiển tựu sư.’ Công tào sai tam nhân, lâm khiển dẫn kiến, huấn dĩ ‘Sở học vị cập, ‘Nhị kinh phú’, bác vật chi thư dã, thế nhân hốt lược, thiếu hữu kỳ sư, khả cầu năng độc giả tòng thụ chi’. Hựu mật dụ chỉ. Tuần nhật đắc năng độc giả, toại vãng thụ nghiệp. Lại nhân thỉnh sử tác tiêm, tỷ phương kỳ thư, dữ đầu thư nhân đồng thủ. Thu nhiếp án vấn, cụ đắc tình lý.”
Ý nghĩa như sau:
Bấy giờ có người viết thư nặc danh phỉ báng triều chính, Thái Tổ căm ghét loại cử động này, muốn biết người viết thư là ai. Quốc Uyên tấu thỉnh đem bức thư gốc giữ lại, đừng đem tình huống của nó tuyên lộ ra ngoài. Trong bức thư đó rất nhiều chỗ đều trích dẫn nội dung của “Nhị kinh phú”, Quốc Uyên ra lệnh cho công tào: “Quận này vốn đã lớn, hơn nữa lại là đô thành, nhưng người có học vấn lại không nhiều. Ngươi đi tuyển chọn vài người trẻ tuổi thông minh có tri thức, ta muốn phái bọn họ đi bái sư học tập.” Công tào tuyển chọn ba người, Quốc Uyên trước khi phái đi đã triệu kiến bọn họ, dạy bảo nói: “Thứ các ngươi học còn chưa rộng rãi, ‘Nhị kinh phú’ là cuốn sách bác thức, chỉ là thế nhân xem nhẹ nó, rất ít có lão sư có thể giảng giải nó. Các ngươi lập tức đi tìm kiếm người có thể đọc hiểu nó, hướng hắn thỉnh giáo.” Sau đó lại bí mật dặn dò bọn họ, chuyện này đừng trương dương. Mất mười ngày thời gian, tìm được người giỏi đọc “Nhị kinh phú”, ba người liền đi bái sư học tập. Quan lại bảo bọn họ nhân cơ hội yêu cầu người nọ viết một tờ tiêm thư, sau đó cùng bức thư kia làm so sánh, nhìn thấy nét chữ người nọ viết cùng thư phỉ báng giống nhau. Đương trường câu lưu người nọ thẩm vấn, quả nhiên biết được chân tướng người này viết thư phỉ báng.
Đây chính là sự ứng dụng thực tế của giám định bút tích trong án lệ cụ thể, án lệ này cách nay đã hơn một ngàn tám trăm năm, việc ứng dụng bút tích của quốc gia ta, không thể nói là không sớm.
Đến triều Đường, khi tra án đã có thủ đoạn trưng nghiệm thư tích này rồi, mà khi đó người xưa chủ yếu thông qua bốn phương thức để tiến hành nghiệm chứng đối với bút tích.
Loại thứ nhất, kiểm nghiệm đặc trưng mặt giấy văn thư. Phương pháp thường dùng có thấu quang quan sát, thủy tẩm (ngâm nước), nhục nhãn quan sát vân vân. Trương Sở Kim triều Đường liền lợi dụng thấu quang quan sát pháp và thủy tẩm pháp để kiểm nghiệm văn thư chắp vá, cắt dán, thành công trinh phá vụ án Hồ Châu tá sứ Giang Sâm vu hãm Thứ sử Bùi Quang.
Loại thứ hai, phân tích bút tích văn thư, thông qua thói quen viết chữ đối chiếu tiêu bản bút tích, từ đó xác định chữ viết xuất phát từ tay ai. Trong án lệ mà “Tam quốc chí - Ngụy thư - Quốc Uyên truyện” nhắc đến phía trước ghi chép, quan lại sử dụng chính là phương pháp này.
Loại thứ ba, phân tích nội dung ghi chép trong văn thư, thu hoạch manh mối. Ngôn ngữ trên giấy lợi dụng phù hiệu văn tự để biểu đạt tư tưởng của con người, người viết khác nhau, thói quen dùng từ đặt câu của hắn cũng khác nhau. Trong “Đường âm tỷ sự” liền ghi chép án lệ “Trình Hạo cật ông”, Trình Hạo chính là thông qua phân tích từ ngữ “ông” này mà dùng trí phá được vụ án tống tiền.
Loại thứ tư, lợi dụng sự sai biệt giữa văn tự và ấn văn để phá án. Căn cứ theo quy luật biến hóa của “mực nước”, “ấn văn”, lại kết hợp với trình tự trước sau hình thành ấn chương, chưởng ấn, mặc tích để tiến hành phân tích. Nguyên Giáng thời Tống, liền từng căn cứ theo trình tự trước sau hình thành dấu in chỉ văn và mặc tích mà phá hoạch vụ án.
Chaporia
Bình Luận (0)