Pháp y học của quốc gia ta khởi nguồn từ thời kỳ Chiến Quốc, đến cuối thời Chiến Quốc xuất hiện chức vụ Lệnh sử, chủ yếu phụ trách dẫn dắt Lệ thần tiến hành kiểm nghiệm đối với tử thi.
Ghi chép sớm nhất liên quan đến nội dung kiểm nghiệm pháp y, là “Lễ ký” và “Lữ thị Xuân Thu”. Trong “Lễ ký - Nguyệt lệnh” và “Lữ thị Xuân Thu - Mạnh thu kỷ” đều có ghi chép thế này: “Thị nguyệt dã, hữu tư tu pháp trị, thiện linh ngữ, cụ chất cốc, cấm chỉ gian thận tội tà, vụ bác chấp. Mệnh lý chiêm thương, sát sang, thị chiết, thẩm đoạn, quyết ngục tụng, tất đoan bình.” Thông qua đoạn ghi chép này có thể nhìn ra, bấy giờ đã có quan viên phụ trách nghiệm thương.
Năm 407 trước Công nguyên, Ngụy Văn Hầu bổ nhiệm Pháp gia trứ danh Lý Khôi tiến hành cải cách chính trị, ban bố “Pháp kinh”. “Pháp kinh” tổng hợp pháp luật của các chư hầu quốc đương thời, là bộ thành văn pháp điển khá hoàn chỉnh đầu tiên của Trung Hoa. Cuộc biến pháp Thương Ưởng trứ danh trong lịch sử quốc gia ta, hình pháp trong đó (“Tần luật”) chính là căn cứ theo “Pháp kinh” mà chế định.
Hình hài ban đầu của pháp y học cổ đại quốc gia ta, ước chừng chính là xuất hiện sau khi thực hành “Pháp kinh” và “Tần luật”.
So với thời kỳ Tiên Tần, hoàn cảnh chính trị đại nhất thống ổn định, khiến chế độ kiểm nghiệm pháp y của triều Tần có sự phát triển và hoàn thiện tiến thêm một bước. Về phương diện chế độ kiểm nghiệm pháp y, ghi chép chủ yếu nhất, lại đến từ “Phong chẩn thức”.
“Phong chẩn thức” đề cập đến nội dung trên bảy phương diện: Thẩm vấn, điều tra lịch sử phạm nhân, niêm phong, lùng bắt, tự thú, trừng trị và khám nghiệm. Phạm vi khám nghiệm mà “Phong chẩn thức” giới thiệu có thể nói là tương đương rộng rãi, bao gồm kiểm nghiệm người sống, kiểm nghiệm thủ cấp, kiểm nghiệm tử thi, kiểm nghiệm hiện trường và kiểm nghiệm thú y học vân vân.
Ví như trong “Phong chẩn thức - Tranh ngưu” có ghi chép thế này: “Viên thư: Mỗ lý công sĩ Giáp, sĩ ngũ Ất nghệ ngưu nhất, hắc tẫn mạn (mi) hữu giác, cáo viết: ‘Thử Giáp, Ất ngưu dã, nhi vong, các thức, cộng nghệ lai tranh chi.’ Tức lệnh lệnh sử mỗ xỉ ngưu, ngưu lục tuế hĩ.”
Ý nghĩa như sau:
Viên thư: Công sĩ Giáp và Sĩ ngũ Ất ở mỗ lý cùng nhau mang đến một con bò, là bò cái màu đen có sừng, có buộc dây thừng dài, báo cáo nói: “Đây là bò của Giáp, Ất, bò bị mất, Giáp, Ất đều cho là của mình, cùng mang đến tranh tụng.” Lập tức ra lệnh cho Lệnh sử mỗ kiểm tra răng bò, nhìn thấy bò đã sáu tuổi rồi.
Nhìn bao quát toàn thiên “Phong chẩn thức” có thể nhìn ra, mỗi khởi vụ án đều có một nguyên do báo án, điều này vô cùng tương tự với tình tiết vụ án tóm tắt trong giám định pháp y học hiện tại.
Sau khi giới thiệu xong tình tiết vụ án, chính là kiểm nghiệm hiện trường và khám tra hiện trường, sau khi khám tra hiện trường hoàn tất, do Lệnh sử soạn viết báo cáo kiểm nghiệm. Từ một chuỗi hành vi này có thể nhìn ra, kiểm nghiệm pháp y ở triều Tần, đã có tổ chức chuyên môn và chế độ hệ thống.
Từ trong “Phong chẩn thức”, còn có thể nhìn ra tình huống công tác của nhân viên kiểm nghiệm tư pháp triều Tần. “Phong chẩn thức - Cáo thần” có nhắc đến “lệnh lệnh sử mỗ chẩn Bính”, từ đó có thể thấy, Lệnh sử nhắc đến trong văn thực chất chính là nhân viên kiểm nghiệm chủ yếu, công tác của hắn khá tạp, không chỉ phải tiến hành kiểm nghiệm đối với tử thi, còn phải tiến hành phân tích đối với dấu vết tại hiện trường, ngoài ra lùng bắt phạm nhân cũng là việc của hắn. Có thể thấy, Lệnh sử hẳn là ngỗ tác (quan nghiệm thi) sớm nhất trên thế giới.
Ngoài ra, trong “Phong chẩn thức” còn nhắc đến Lệ thần thiếp. Lệ thần thiếp thực chất chính là nô lệ nam và nô lệ nữ, bọn họ chủ yếu khởi tác dụng phụ trợ trong khám tra hiện trường phạm tội, tương tự như người đánh hạ thủ (phụ việc).
Cơ sở lý luận xử án trên đây, thực chất bắt nguồn từ nghiên cứu của người xưa đối với y học. Y học làm khoa học sinh mệnh nghiên cứu cơ thể người, không thể tách rời sự “phụ tá” của giải phẫu học. Ví như thận tạng ở vị trí nào, tỳ tạng khởi tác dụng gì, huyết quản lại có công năng gì, phẩn tiện (phân) là làm sao hình thành và bài xuất ra, tất cả những điều này đều cần thông qua giải phẫu học để làm rõ.
Trong một khoảng thời gian trước thời Tiên Tần, Trung Hoa tồn tại tập tục giết chết tù binh dùng để tế tự. Ví như, trong giáp cốt văn, có một chữ “tín”, nó chính là ý nghĩa đầu lâu, thông thường là chỉ đầu lâu của chiến phu, như “dụng Nguy phương tín vu Tỷ Canh”, dịch ra, chính là dùng đầu lâu của quốc vương Nguy phương để tế tự Tỷ Canh.
Ngoài ra, thời cổ đại, đồ tế tự đâu chỉ đơn thuần là đầu lâu, căn cứ theo nội dung tế tự khác nhau, tế phẩm thường thường cũng sẽ có sự sai biệt rất lớn, ngũ tạng lục phủ của con người đều có thể dùng để tế tự. Mà trong quá trình chi giải (phanh thây) con người, người cổ đại thực chất đối với cấu tạo thân thể con người cũng đã có sự hiểu biết nhất định.
Tương truyền, y thuật của thần tử Hoàng Đế là Du Phụ tương đương cao siêu, đặc biệt là về phương diện ngoại khoa vô cùng có kinh nghiệm, ông ta có thể căn cứ theo huyệt vị của ngũ tạng lục phủ mà cắt mở da thịt, đem mạch lạc của cơ thể người điều lý thông suốt, ngoài ra, ông ta còn có thể làm phẫu thuật mở hộp sọ.
“Sử ký - Biển Thước Thương Công liệt truyện” ghi chép về ông ta thế này: “Thần văn thượng cổ chi thời, y hữu Du Phụ, trị bệnh bất dĩ thang dịch lễ sái, sàm thạch kiều dẫn, án ngột độc uất, nhất bát kiến bệnh chi ứng, nhân ngũ tạng chi thâu, nãi cát bì giải cơ, quyết mạch kết cân, nặc tủy não, điệp hoang trảo mạc, tiễn hoán tràng vị, thấu địch ngũ tạng, luyện tinh dịch hình.”
Hoàng Đế còn có một vị thần tử, tên là Bá Cao, ông ta cũng là một vị đại phu tinh thông giải phẫu học. Tương truyền, ông ta từng đo lường kích thước mỗi bộ vị cùng với xương cốt trên cơ thể người, dùng số liệu này để suy tính độ dài ngắn của kinh lạc cơ thể người; ngoài ra, ông ta còn từng hướng Hoàng Đế miêu tả cẩn thận dung lượng cùng với quy cách lớn nhỏ của khí quan cơ thể người. Lý luận của ông ta về cơ bản ăn khớp với kết luận đo lường của giải phẫu học hiện đại.
Từ đó có thể thấy, y thuật của hai vị thượng cổ thần y này cực kỳ cao siêu, gần như có thể sánh ngang với trình độ y học hiện đại. Nói cách khác, ngay từ hơn bốn ngàn năm trước, người xưa trị liệu tật bệnh đã sử dụng kỹ thuật ngoại khoa y học mổ xẻ da thịt, kiểm nghiệm ngũ tạng lục phủ.
“Hoàng Đế Nội Kinh” hoàn thành vào thời kỳ Chiến Quốc đến Tần Hán là y học điển tịch sớm nhất của Trung Hoa, chia làm hai phần “Linh Khu”, “Tố Vấn”. Tố tài cơ bản của nó, chính là bắt nguồn từ sự quan sát, thực tiễn trường kỳ của người xưa đối với hiện tượng sinh mệnh.
“Linh Khu - Kinh thủy” liền ghi chép rõ ràng: “Phu bát xích chi sĩ, bì nhục tại thử, ngoại khả độ lượng thiết tuần nhi đắc chi. Kỳ tử, khả giải phẫu nhi thị chi. Kỳ tạng chi kiên thúy, phủ chi đại tiểu, cốc chi đa thiểu, mạch chi trường đoản, huyết chi thanh trọc…”
Thời kỳ Hán Đường, lại là thời kỳ pháp y học cổ đại quốc gia ta tiến thêm một bước phát triển và hoàn thiện.
Thái Ung triều Hán khi làm chú giải cho “Lễ ký” có nói: “Bì viết thương, nhục viết sang, cốt viết chiết, cốt nhục giai tuyệt viết đoạn.” Ý là nói: Vết thương ngoài da gọi là thương, thương đến thịt gọi là sang, thương đến xương gọi là chiết, xương thịt đều thương gọi là đoạn.
Khi xử lý các loại vụ án phạm tội, nhất định phải trọng chứng cứ, xem xem vết thương là ở ngoài da hay cơ bắp, là gãy xương hay gân cốt đều đứt, muốn bỉnh công chấp pháp, liền phải căn cứ theo trạng huống khác nhau của thương tình mà phán quyết.
Thái y Bác sĩ triều Tùy là Sào Nguyên Phương cùng những người khác vào năm Đại Nghiệp thứ sáu (năm 610) đã soạn viết một cuốn y học điển tịch tên là “Chư bệnh nguyên hậu luận”. Từ nhận thức về nguyên nhân cái chết mà cuốn sách này ghi chép để phân tích, Thái y viện đương thời đối với sự phán đoán nhiều loại nguyên nhân cái chết của nhân loại đã tương đương toàn diện rồi.
“Chư bệnh nguyên hậu luận quyển chi tam thập lục - Kim sang chư bệnh - Kim sang nội lậu hậu” vân: “Phàm kim sang thông nội, huyết đa nội lậu, nhược phúc trướng mãn, lưỡng hiếp trướng, bất năng thực giả tử. Ứ huyết tại nội, phúc trướng, mạch lao đại giả sinh, trầm giả tử.”
Chính là nói nếu vết thương do kim loại duệ khí gây ra xuyên thấu thể khang (khoang cơ thể), sẽ tạo thành đại xuất huyết bên trong phúc khang (khoang bụng), tiến tới tạo thành tử vong, đây là ghi chép tường tận về việc duệ khí gây thương tích dẫn đến tử vong.
“Đường luật sơ nghị” của triều Đường đối với “kết luận kiểm nghiệm pháp y pha giả” quy định thế này: “Chư hữu trá bệnh cập tử thương, thụ sử kiểm nghiệm bất thực giả, các y sở khi, giảm nhất đẳng. Nhược thực bệnh tử cập thương, bất dĩ thực nghiệm giả, dĩ cố nhập nhân tội luận.”
Phía trên quy định rõ ràng, nhân viên tham gia kiểm nghiệm khi giám định vụ án giả chết, giả bị thương, giả dụ kết luận kiểm nghiệm làm giả, liền phải chịu hình phạt, mức độ trừng giới của hình phạt chỉ thấp hơn kẻ giả chết, giả bị thương một bậc; giả dụ quả thực là bệnh, thương, chết, kết luận kiểm nghiệm pha giả, liền phải chiếu theo cố ý gia tội cho người khác mà xử phạt.
Từ đó chứng minh, ở triều Đường, kiểm nghiệm pháp y đã được truyền tập rộng rãi, đồng thời liệt vào hình luật, chế độ pháp luật về “kết luận kiểm nghiệm pháp y pha giả” thời Đường, cũng được các triều đại về sau tiếp tục sử dụng.
Pháp y học ở triều Đường phát triển toàn diện, mà đến triều Tống, chế độ pháp y học tương quan liền càng thêm hoàn thiện. Chuyên khảo có hệ thống đầu tiên trên thế giới về chế độ kiểm nghiệm mà mọi người đều quen thuộc “Tẩy oan tập lục” chính là đản sinh vào lúc này.
Cuốn sách này ghi chép tường tận pháp lệnh, phương pháp và một số điểm cần chú ý liên quan đến kiểm nghiệm tử thi thời Tống, ngoài ra trong sách còn ghi chép các loại hiện tượng tử thi, cùng với hiện tượng tử thi nên phán đoán thế nào, đối với những thứ như chết ngạt, chết do trúng độc, chết do nhiệt độ cao, vết thương do độn khí như gậy gộc, vết thương do duệ khí như đao kiếm vân vân, đều có ghi chép và phân tích tương đương tường tận.
Đến sau thời Nam Tống, “Tẩy oan tập lục” liền trở thành giáo trình học tập kiểm nghiệm pháp y của ngỗ tác các triều đại, đồng thời được các triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh định làm chuẩn tắc của kiểm nghiệm hình sự.
Ngoài ra, “Tẩy oan tập lục” được dịch thành nhiều loại văn tự, truyền đến châu Á thậm chí các nơi trên thế giới, đối với lịch sử pháp y học thế giới đều có ảnh hưởng sâu xa.
Chaporia
Bình Luận (0)