Đại Đường Phong Chân Lục: Thiên Lôi Quyết/Hồi thứ ba: Chương Giám định lý hóa.Hồi thứ ba: C. Giám định lý hóa.
20px

Hiểu theo nghĩa đen, lý hóa kiểm nghiệm chính là phân tích đặc tính vật lý và đặc tính hóa học của vật thể.

Sự khác biệt giữa lý hóa kiểm nghiệm cổ đại và lý hóa kiểm nghiệm hiện đại, không ngoài sự sai biệt của khí cụ kiểm nghiệm. Từ xưa đến nay, nương theo sự nâng cao của sức sản xuất xã hội, sự hiểu biết của con người đối với đặc tính tự thân của vật thể cũng dần dần thấu triệt, đây cũng là tiêu chí tiến bộ của văn minh nhân loại.

Ngay từ thời kỳ viễn cổ, con người chế gốm, luyện kim, ủ rượu, nhuộm màu, thực chất đều là hình thức biểu hiện sơ cấp của lý hóa kiểm nghiệm. Khi các thuật sĩ ở trong hoàng cung, trong ốc xá, trong thâm sơn cùng cốc, vì có thể cầu được đan dược trường sinh bất lão hoặc là vinh hoa phú quý, bọn họ đã bắt đầu “thực nghiệm lý hóa” sớm nhất.

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, vì để tìm kiếm phương pháp trường sinh bất lão, không chỉ lệnh cho Từ Phúc cùng những người khác ra biển tìm kiếm thuốc trường sinh bất lão, còn triệu tập một đám lớn phương sĩ bất kể ngày đêm luyện chế đan dược cho hắn.

Phương sĩ luyện đan tuy lấy trường sinh bất lão làm mục đích, nhưng cũng tổng kết ra một số quy luật lý hóa kiểm nghiệm. Như tị tổ luyện đan Cát Hồng trong “Bão Phác Tử” viết: “Đan sa thiêu chi thành thủy ngân, tích biến hựu hoàn thành đan sa.” Thứ ông ta viết thực chất chính là quy luật biến hóa lẫn nhau của vật chất mà chúng ta nghiên cứu trong hệ thống hóa học hiện đại, tức là giữa các vật chất có thể thông qua can thiệp nhân tạo mà chuyển hóa lẫn nhau.

Việc phát minh ra hỏa dược, liền có quan hệ mật thiết với thuật luyện đan thời kỳ Tây Hán.

Phương pháp luyện đan của người xưa là đem lưu huỳnh và tiêu thạch đặt trong lò luyện đan, dùng lửa luyện chế trong thời gian dài. Trong quá trình luyện đan, khó tránh khỏi sẽ xuất hiện hiện tượng bốc cháy và bạo tạc, qua nhiều lần thử nghiệm, con người cuối cùng đã tìm ra phương pháp phối chế hỏa dược.

Ngoại trừ “phương sĩ” của Trung Hoa, còn có “luyện kim thuật sĩ” của ngoại quốc, bọn họ vì để thực hiện các loại kỳ tư diệu tưởng, đã triển khai hết lần này đến lần khác thực nghiệm hóa học nguyên thủy. Vì thế, bọn họ còn phát minh ra các loại khí cụ, như lò luyện đan, thiết bị chưng cất, dung lô, chén gia nhiệt, còn có một số trang bị lọc cực kỳ tinh tế. Bọn họ căn cứ theo nhu cầu xã hội đương thời mà luyện chế ra đan dược, trong đó rất nhiều thứ là axit, bazơ, muối thường dùng thời hiện đại.

Điều khiến người ta cảm thấy kinh ngạc nhất là, thời đại Xuân Thu Chiến Quốc, tư tưởng gia trứ danh Huệ Thi liền đưa ra: “Nhất xích chi trủy, nhật thủ kỳ bán, vạn thế bất kiệt.” Ý là: Một cây gậy dài một thước, ta hôm nay lấy đi một nửa, ngày mai lại lấy đi một nửa của một nửa, ngày kia lại tiếp tục lấy đi một nửa của một nửa của một nửa, cứ “nhật thủ kỳ bán” như vậy, luôn sẽ có một nửa sót lại, cho nên cách lấy này, là lấy mãi không hết dùng mãi không cạn. Nguyên lý mà câu nói này thể hiện chính là: Vật thể có thể bị phân cắt vô hạn.

“Khoa thánh” Mặc Tử của học phái Mặc gia lại nói: “Phi bán phất tắc bất động. Thuyết tại đoan.” Ý là: Giả dụ là thứ không thể phân khai, sử dụng phương pháp gì cũng không thể đem nó phân khai, vậy thì thứ này chính là “đoan” rồi.

Hai người phân biệt từ góc độ của bản thân đưa ra quan điểm của chính mình, đây chính là hình hài ban đầu của thuyết nguyên tử.

Mà cổ đại quốc gia ta còn có một loại ngũ hành học thuyết liên quan đến cấu tạo vật chất, học thuyết đem cấu tạo của vật thể chia làm năm loại Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Thời đại Chiến Quốc ngũ hành học thuyết nhận được sự phát triển vượt bậc, phạm vi ý nghĩa cũng theo đó mà mở rộng.

Một loại là thuyết ngũ hành tương sinh, tức “Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim”, cấu thành một tuần hoàn.

Một loại khác là thuyết ngũ hành tương khắc, tức “Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim”, như vậy cũng cấu thành một tuần hoàn.

Tư tưởng triết học duy vật diễn biến từ “ngũ hành sinh khắc”, cho đến nay vẫn là bộ phận cấu thành trọng yếu của văn hóa Trung Hoa, trong các lĩnh vực khoa học như Trung y học cổ đại, thiên văn học, toán học ứng dụng cực kỳ rộng rãi, tư tưởng thẩm thấu đến mấy ngàn năm sau. Đặc biệt là học thuyết “Thiên Can”, “Địa Chi” dung hợp với nó, cũng ảnh hưởng rất rộng.

Án lệ thời cổ đại đem “đặc tính lý hóa” của vật chất ứng dụng vào phá án, trong điển tịch đời sau cũng khá thường thấy.

Ví như trong “Bắc sử - Lý Huệ truyện” liền có ghi chép thế này: “Nhân hữu phụ diêm phụ tân giả, đồng thích trọng đảm, tức vu thụ âm, nhị nhân tương hành, tranh nhất dương bì, các ngôn tạ bối chi vật. Huệ khiển tranh giả xuất, cố châu cương kỷ viết: ‘Thử dương bì khảo tri chủ hồ?’ Quần hạ dĩ vi hí ngôn, hàm vô ứng giả. Huệ lệnh nhân trí dương bì tịch thượng, dĩ trượng kích chi, kiến thiểu diêm ti tiết, viết: ‘Đắc kỳ thực hĩ.’ Sử tranh giả thị chi, phụ tân giả nãi phục nhi tựu tội.”

Ý nghĩa như sau:

Có hai người, một người cõng muối, một người cõng củi, bọn họ đồng thời đặt đồ nặng xuống, nghỉ ngơi dưới bóng cây. Ngay lúc hai người chuẩn bị rời đi, hai người bọn họ vì một tấm da dê mà cãi vã, đều xưng da dê là của mình, thế là báo quan. Lý Huệ nghe xong bảo hai người đều ra ngoài, tiếp đó hắn nói với chủ bạ trong châu: “Tra khảo tấm da dê này, hỏi xem chủ nhân của nó là ai?” Thuộc hạ đều cho rằng là lời nói đùa của hắn, không có ai ứng đáp. Lý Huệ liền sai người đem da dê đặt lên chiếu, dùng gậy gỗ gõ đập, nhìn thấy từ trên da dê rơi xuống một lượng nhỏ hạt, qua nếm thử là hạt muối, hắn liền nói: “Tìm thấy chân tướng rồi.” Hắn bảo hai người tranh chấp nhìn, người cõng củi đương trường phục khí nhận tội.

Vụ án này chỉ là một ví dụ trong đó mà thôi, trong hệ thống phá án lý hóa của người xưa, kiểm nghiệm độc vật thường mang tính đại diện nhất.

Tư tưởng gia thời Đông Hán là Vương Sung viết cuốn sách “Luận hành”, trong sách đã có thiên chương “Ngôn độc” chuyên môn thảo luận vấn đề độc vật, cũng có các thiên chương đề cập đến vấn đề độc vật như “Cát nghiệm”, “Lôi hư”, “Đạo hư”, “Ngữ tăng”, “Tao hổ”, “Luận tử”, “Tử ngụy”, “Đính quỷ”, ví dụ như sau.

“Luận hành - Cát nghiệm” thiên vân: “Chi độc thích chi dã, cầm trùng bất năng thương.” Độc thích là mãnh thú độc trùng thuộc loại rắn lục, hổ sói, thiên này đối với động vật có độc đã làm ra định nghĩa rõ ràng.

“Luận hành - Ngữ tăng” thiên vân: “Ngụy công tử Vô Kỵ vi trường dạ chi ẩm, khốn độc nhi tử.” Đây là án lệ điển hình dùng rượu độc giết người. Thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc đã có ví dụ sử dụng rượu chậm giết người.

“Luận hành - Tử ngụy” thiên vân: “Cao Hoàng Đế dĩ Triệu vương Như Ý vi tự ngã nhi dục lập chi, Lữ hậu khuể hận, hậu trậm sát Triệu vương.” Đây cũng là án lệ dùng rượu độc giết người.

“Luận hành - Tao hổ” thiên vân: “Thủy trung chi độc, bất cập lăng thượng; lăng thượng chi khí, bất nhập thủy trung. Các dĩ sở cận, ly ương thủ họa.” Cái gọi là thủy trung chi độc, lăng thượng chi khí, chính là miêu tả về phân bố địa lý và đặc trưng của độc vật.

Văn hiến này đối với độc vật nhìn thấy thời Hán thông qua nhận thức, loại hình, cơ lý cùng nhiều phương diện khác tiến hành diễn giải khoa học, lại miêu tả phương pháp hạ độc và giải độc. Có thể nói, “Luận hành” đã đặt nền móng cho độc vật học cổ đại quốc gia ta.

Có cơ sở này, người xưa nhất định sẽ không từ bỏ nghiên cứu. Hơn nữa rất nhiều vật thất truyền do người xưa chế tạo ra, đều vượt quá sức tưởng tượng của người nay, đặc biệt là phối phương của hai loại “độc vật” khó giải là Ma phí tán và Mông hãn dược, cho đến nay vẫn là một câu đố.

Cái tên “Ma phí tán” xuất phát từ “Hậu Hán thư - Phương thuật liệt truyện”. Có người cho rằng Ma phí tán và Mông hãn dược là hai loại thuốc thần bí tồn tại sự liên quan nhất định lại có không ít điểm khác biệt: Điểm chung là, chúng đều có thể khiến người ta hôn mê bất tỉnh; điểm khác biệt nằm ở chỗ, sử dụng Ma phí tán là vì trị bệnh cứu người, mà sử dụng Mông hãn dược lại là vì khiến người ta hôn mê bất tỉnh, thuận tiện làm chuyện phi pháp.

Còn có người cho rằng, trong Ma phí tán có dương kim hoa, thành phần có độc của nó là scopolamine, có thể khiến người ta cuồng lãng phóng đãng, bạo táo, du khoái, không biết đau đớn; còn về Mông hãn dược, càng nhiều người cho rằng nó là một loại thuốc mê, thành phần là mạn đà la.

Ghi chép về độc vật thời cổ đại đúc kết lại, có thể chia làm bốn loại.

Loại thứ nhất là độc thực vật, như: Đoạn trường thảo, phiên mộc miết, giáp trúc đào, độc tiễn mộc, mạn đà la, a phù dung, nấm hoa vân vân.

Loại thứ hai là độc động vật, như: Độc chim chậm, độc cá nóc, độc rắn, độc cua, độc ếch, độc côn trùng vân vân.

Loại thứ ba là độc khoáng vật, như: Hạc đảnh hồng, kim cương thạch, thủy ngân, chì, thạch tín vân vân.

Loại thứ tư là độc khí thể, như: Khí thể sinh ra khi than củi thiêu đốt không hoàn toàn (carbon monoxide), độc khí bốc lên từ dưới lòng đất (khí thiên nhiên), khí nấm mốc hủ bại vân vân.

Trong “Tẩy oan tập lục” có ghi chép tường tận liên quan đến kiểm nghiệm các loại độc vật. Thiên “Phục độc” trong quyển chi tứ giới thiệu thế này:

Phàm phục độc tử giả, thi khẩu nhãn đa khai, diện tử ảm hoặc thanh sắc, thuần tử hắc, thủ, túc chỉ giáp câu thanh ảm, khẩu, nhãn, nhĩ, tị gian hữu huyết xuất.

Thậm giả, biến thân hắc thũng, diện tác thanh hắc sắc, thuần quyển phát bào, thiệt súc hoặc liệt sách, lạn thũng vi xuất, thuần diệc lạn thũng hoặc liệt sách, chỉ giáp tiêm hắc, hầu, phúc trướng tác hắc sắc, sinh bào, thân hoặc thanh ban, nhãn đột, khẩu, tị, nhãn nội xuất tử hắc huyết, tu phát phù bất kham tẩy. Vị tử tiền tu thổ xuất ác vật, hoặc tả hạ hắc huyết, cốc đạo thũng đột, hoặc đại tràng xuyên xuất.

Hữu không phúc phục độc, duy phúc đỗ thanh trướng, nhi thuần, chỉ giáp bất thanh giả; diệc hữu thực bão hậu phục độc, duy thuần, chỉ giáp thanh nhi phúc đỗ bất thanh giả; hựu hữu phúc tạng hư nhược lão bệnh chi nhân, lược phục độc nhi tiện tử, phúc đỗ, khẩu thuần, chỉ giáp tịnh bất thanh giả, khước tu tham dĩ tha chứng.

Thiên này thuyết minh chi tiết triệu chứng trúng độc của nhiều loại độc vật như chuột mãng, cỏ độc, thạch tín, rắn rết, cùng với sau khi trúng độc nên kiểm nghiệm và giải cứu thế nào, đồng thời diễn giải sự khác biệt trên thi quan trong vài loại tình huống như bụng đói uống thuốc độc, người thể nhược đa bệnh uống thuốc độc cùng với đem thuốc độc bỏ vào miệng người chết ngụy trang thành trúng độc.

Nếu người xưa đối với độc vật sớm đã có hiểu biết, vậy nên kiểm nghiệm độc vật thế nào, đương nhiên cũng có phương pháp của riêng bọn họ.

Một loại phương pháp khá tràn lan trong phim ảnh cổ trang gọi là “ngân châm thử độc”. Thực chất ngân châm thử độc trong nhiều bộ lịch sử cổ tịch như “Tẩy oan tập lục” đều có ghi chép, trong xử án thời cổ đại cũng thường được sử dụng.

Tuy nhiên cho dù dùng phương pháp này thành công kiểm nghiệm ra độc vật, thực chất cũng chẳng qua là mèo mù vớ cá rán. Do kỹ thuật sản xuất lạc hậu, trong thạch tín cổ đại có chứa tạp chất như lưu huỳnh và hợp chất lưu huỳnh. Lưu huỳnh hoặc hợp chất lưu huỳnh tiếp xúc với bạc sẽ phát sinh phản ứng hóa học, khiến bề mặt ngân châm sinh ra một lớp bạc sunfua màu đen.

Cho nên, thứ khiến ngân châm biến đen không phải là độc, mà là lưu huỳnh và hợp chất lưu huỳnh. Đem ngân châm đâm vào trứng gà, ngân châm cũng sẽ biến đen. Phía trên đã thuật, chủng loại độc vật thời cổ đại khá nhiều, tuyệt đối không chỉ có một loại thạch tín, cho nên ngân châm thử độc chỉ là một trò cười, tuyệt đối không thể coi là thật.

Vậy phương pháp nghiệm độc chân chính của người xưa lại có những gì?

Trước khi giới thiệu, chúng ta trước tiên hãy xem một đoạn thoại trong “Sơn hải kinh - Tây sơn kinh”: “Hữu bạch thạch yên, kỳ danh viết dự, khả dĩ độc thử. Hữu thảo yên, kỳ trạng như cảo bạt, kỳ diệp như quỳ nhi xích bối, danh viết vô điều, khả dĩ độc thử.”

Ngoài ra, “Triều dã thiêm tái” do Trương Trác triều Đường soạn viết ghi chép: “Hựu dự thạch khả dĩ hại thử… Thử trung độc như túy, diệc bất thức nhân, do tri thủ nê trấp ẩm chi, tu du bình phục.”

Chuột gặm nhấm lương thực, phá hoại gia cụ, còn có thể truyền bá các loại mầm bệnh, người xưa đối phó với chuột có thể nói là hao tổn tâm cơ, thậm chí nghiên cứu ra nhiều loại dược vật độc chuột, đối với phản ứng sau khi trúng độc, thời gian tử vong của chuột đều làm ra ghi chép tương đương tường tận.

Do chuột, thỏ trao đổi chất khá nhanh, ăn phải độc vật lập tức sẽ sinh ra phản ứng, cho nên người xưa khi nghiệm độc đa phần dùng động vật có vú cỡ nhỏ như chuột, thỏ. Về sau, người xưa nhìn thấy chim hoàng yến đối với độc vật cũng vô cùng mẫn cảm, chỉ cần dính một chút độc vật liền sẽ lập tức tử vong, trong cung đình cũng có ghi chép dùng chim hoàng yến thử độc.

Mà trong những động vật này, chuột dễ sinh sản nhất, cho nên chuột liền trở thành công cụ chuyên dụng để nghiệm độc của người xưa, thậm chí dân gian còn có thương khách chuyên môn chăn nuôi chuột, bọn họ sẽ đem những “chuột đời một” không mang theo tật bệnh chăn nuôi xuất chuồng, buôn bán cho đạt quan hiển quý, dùng để thử độc trước bữa ăn.

Khi người xưa xử án, quá trình nghiệm độc ra sao?

Lấy ví dụ một người nào đó trúng độc mà chết.

Quan viên phá án sẽ trước tiên quan sát thi quan (bề ngoài tử thi), thất khiếu chảy máu, miệng sùi bọt mép vân vân đều là triệu chứng điển hình của trúng độc, sau khi trong lòng có một phán đoán đại khái, quan viên phá án liền sẽ lấy chuột nghiệm độc, chứng minh người chết quả thực là trúng độc mà chết, sau đó lại tìm kiếm nguồn độc, phán đoán chủng loại độc vật.

Do nhan sắc, khí vị, trạng thái của các loại độc vật đều không giống nhau, cho nên quan viên phá án trong lòng sẽ có một phán đoán đại khái. Trình độ sức sản xuất thời cổ đại khá thấp, độc vật không màu không mùi cực kỳ thưa thớt, vả lại chủng loại độc vật không đến trăm loại, cẩn thận phân biệt liền có thể nhìn thấy điểm khác nhau của các loại độc vật. Giả dụ nhìn thấy là độc động vật, liền phải suy xét xem có người nào có thể tiếp xúc với loại động vật này hay không, tiếp đó lại căn cứ theo manh mối tiến hành tra chứng.

Bình Luận (0)

Vui lòng Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận...