Constance thức dậy từ sớm, cùng với bình minh. Vầng sáng trắng dịu dàng bao phủ quanh giường và cô cũng dần tỉnh giấc theo nhịp điệu ấy, bình yên, gần như thanh thản. Sự tương phản với những tiếng chuông báo thức chói tai mỗi sáng tại căn hộ duplex ở Brooklyn khiến cô tự hỏi tại sao mình không chọn lối sống này sớm hơn. Bởi vì cuộc sống, công việc, trường học, những cuộc hẹn... Cứ mải mê ngắt kết nối với thiên nhiên và những chu kỳ tự nhiên của nó, tự áp đặt cho mình một sự tồn tại được tính toán dựa trên năng suất, thì cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi con người không còn thấu hiểu thiên nhiên nữa, khi họ buông thả bản thân để hủy hoại nó một cách có hệ thống bằng sự ích kỷ của mình thay vì tìm cách cảm nhận nó.
*Mình đang trở thành một kẻ rởm đời thích sống xanh mất rồi.*
Sáng nay, buổi sáng đầu tiên của cô tại căn chalet kể từ... một khoảng thời gian dài đằng đẵng (cô thích khái niệm này hơn là gợi lại bi kịch, đó không phải là một cách tử tế để bắt đầu ngày mới), cô dành thời gian để vươn vai trên sân hiên dưới cùng, ngay sát bờ hồ. Solace đã ra ngoài đi dạo mà không hề càu nhàu, sự cố gầm gừ ngày hôm qua dường như đã bị lãng quên, và Constance ghen tị với nó vì có trí nhớ ngắn hạn hoặc vì có thể dễ dàng bỏ qua mọi chuyện đến vậy. Khi đánh thức cơ thể và tâm trí theo một nhịp sinh học yên bình, nữ biên kịch không hề có cảm giác muốn nhốt mình trước màn hình máy tính để đọc lại những gì cô đã viết ra ngày hôm qua. Cô không có mục tiêu cụ thể nào, không có yêu cầu bắt buộc nào, cô đã viết để làm trống rỗng tâm trí, và nếu cô không bao giờ muốn chạm vào bàn phím nữa, thì cứ để mọi chuyện như vậy đi. Cô muốn lắng nghe bản thân, kết nối với một dạng khao khát nào đó, dù là thoáng qua, và ngay lúc này, khao khát đó là được vận động thể chất, vì vậy cô đã trải thảm yoga ra và thực hiện các tư thế theo nhịp độ của riêng mình.
Đến cuối buổi sáng, cô bắt tay vào việc hạ thủy chiếc thuyền. Cô mở ổ khóa của căn lều bên hông, xé toạc những màng nhện rủ xuống dọc theo cánh cửa như những dải ruy băng kết bằng bụi và bạc. Căn lều sặc mùi xăng, dầu và mỡ. Chiếc thuyền dài 5 mét, đặt trên những thanh tà vẹt bằng gỗ, lẽ ra cần được sơn lại một lớp, nhưng Constance không có đủ can đảm. Bản thân cô còn đang trong tình trạng tồi tệ hơn nhiều, nên nếu phải ưu tiên, cô cho rằng mình xếp trên chiếc thuyền. Dù vậy, cô vẫn dành thời gian để dọn dẹp bên trong thuyền, đuổi những sinh vật nhớp nháp đang trú ngụ, đảm bảo không có con rắn nào làm tổ ở đó, lau chùi động cơ, kiểm tra và điều chỉnh các mức dầu nhớt, sau đó lắp đường ray để trượt chiếc thuyền xuống nước. Constance kéo nó đến sát mép cầu phao và buộc dây neo như cô đã được học từ thuở bé. Ngày đó, gia đình Holloway có một chiếc thuyền nhỏ mà họ phải chèo bằng tay; kể từ đó, sự lười biếng đã lên ngôi và một động cơ Yamaha 15 mã lực được giao nhiệm vụ đẩy con thuyền đi.
Constance huýt sáo gọi Solace, nó rất thích đi cùng cô ra hồ. Nếu nó đi xuống dốc theo sườn phải của căn chalet, nó có thể trèo lên sân hiên mà không bị ngã xuống nước. Không thấy hồi đáp, cô gọi thêm vài tiếng nhưng con chó tò mò đã đi quá xa để có thể nghe thấy, hoặc nó đang ngủ ở phía bên kia. Đành vậy. Nơi này cũng là một chốn dành cho những chú chó, để chúng tìm lại chút tự do, và Solace không phải kiểu chó hay đi hoang, tệ nhất thì nó cũng chỉ mò đến nhà Ezra, đánh hơi thùng rác của ông ấy một cách thèm thuồng, nhưng không bao giờ nó đi xa đến tận con đường phía đông, muộn nhất là đến bữa tối nó sẽ có mặt ở đây.
Constance khởi động động cơ nhỏ và lướt đi trên mặt nước phẳng lặng của hồ Skaneateles, thỉnh thoảng ngoái nhìn lại, sẵn sàng quay đầu nếu Solace cuối cùng cũng chịu đáp lại tiếng gọi của cô, nhưng nó không xuất hiện. Một lúc sau, cô thực sự thư giãn, tìm lại được những cảm giác của ngày xưa, khi tất cả họ còn ở bên nhau, không nhất thiết phải trên thuyền, nhưng ít nhất là dưới cùng một mái nhà. Việc biết rằng họ hiện diện ngay trong tầm tay, nếu cần, đã thay đổi mọi thứ. Khả năng có thể. Niềm khao khát được.
Constance thở dài. Không một giọt nước mắt, không một khoảng trống quặn thắt trong bụng, chỉ có sự tỉnh táo khô khốc và tàn nhẫn khi phải chấp nhận sự thiếu vắng vĩnh viễn. Điều khó khăn nhất trong nỗi đau mất mát là phải chấp nhận sự vắng mặt không thể vãn hồi. Rằng sẽ không bao giờ còn câu điều kiện nào nữa, chỉ có một quá khứ không hoàn hảo mà ta không bao giờ có thể sửa chữa, một quá khứ nội tâm chừng nào những ký ức còn tồn tại. Constance kinh hãi trước ý nghĩ sẽ quên đi giọng nói, mùi hương của họ, những liều lượng về họ mà cô không thể tự tiêm vào mình nữa để làm họ sống lại theo đúng những gì họ đã từng là, chứ không phải những gì cô tưởng là mình nhớ lại. Những đoạn video không giống như vậy. Lạnh lẽo, xa cách. Chúng không vang lên chân thực và ấm áp như trong đầu cô. Và tất cả những điều đó sẽ phai nhạt theo thời gian, cô biết vậy. Liệu nỗi đau có vơi đi khi những ký ức về người chết mất dần sự rõ nét? Cô sợ là có. Vì vậy, cô thà chịu đựng đau khổ cho đến hơi thở cuối cùng.
Cảnh quan còn hoang sơ hơn cả trong ký ức gần nhất của cô. Căn chalet nằm trên sườn dốc hẻo lánh nhất, nơi không có bãi biển nào, không có lối vào dễ dàng nào từ Tỉnh lộ 41 chạy dọc theo hồ trong khu vực. Xa hơn, cách 5 km về phía bắc, cảnh tượng hoàn toàn khác biệt, với vô số ngôi nhà được xây dựng trên bờ, phần lớn là những ngôi nhà nghỉ dưỡng thứ hai bị bỏ trống trong mùa lạnh, nhưng vào mùa hè thì nơi đó đông đúc như một tổ kiến. Các chương trình bảo tồn hệ sinh thái, môi trường khác nhau, cùng với mong muốn của chính quyền địa phương không muốn bị xâm chiếm bởi những đám đông người mới đến không có gốc gác hay chung giá trị, đã kìm hãm sự mở rộng của những công trình này, đến mức toàn bộ phần phía nam của hồ vẫn không có người ở. Sự sống vẫy gọi sự sống (và trong vấn đề này Constance rất rành), những du khách ngày càng tập trung gần các cơ sở hạ tầng, cửa hàng và khu dân cư, và ngày càng ít người đến tận đây, đến mức ở nơi này thảm thực vật bao phủ kín các bờ hồ, đổ ập xuống mặt nước như một thác nước màu ngọc lục bảo sẫm.
Hình dáng hơi giống một hạt đậu dài của hồ Skaneateles cho phép Constance nhìn thấy, ở khoảng cách 4 hoặc 5 km, những công trình xây dựng đầu tiên, phần lớn là những đốm trắng nhỏ, nằm trong một khung cảnh cây cối được quy hoạch bài bản hơn, ở đằng kia thế giới văn minh đang chế ngự môi trường của nó. Constance thích giữ khoảng cách hơn, ngay cả khi kỳ nghỉ đã kết thúc, chắc chắn sẽ không thiếu những người câu cá, người bơi lội và những sự hiện diện khác mà cô sẽ phải lách qua, dù hồ rộng đến cả km, nhưng chỉ riêng ý nghĩ phải đến gần những người xa lạ cũng khiến cô khó chịu. Cô muốn bảo vệ cái kén yên tĩnh của mình, cô đến đây là vì điều đó.
Constance bẻ lái sang mạn phải để chạy dọc theo những tảng đá xám và nâu bị rêu phong rậm rạp che phủ một phần. Cô nhìn thấy một con rắn sọc đang sưởi ấm dưới ánh nắng trưa nhè nhẹ, rồi cô giảm tốc độ động cơ cho đến khi nó chỉ còn là một tiếng gầm gừ khe khẽ và đưa mắt dò xét xung quanh. Chẳng mấy chốc, cô mỉm cười trước một bầy gấu trúc Mỹ đang sục sạo trên mặt đất để tìm thức ăn. Hầu hết chúng đều ngẩng mõm lên khi cô đến gần, nhưng chúng không bỏ chạy, chỉ đứng đó quan sát cô. Lát sau, đến lượt những con ngỗng Canada làm cô bất ngờ khi bay lướt qua ở tầm thấp trong lúc chúng đang tập hợp thành đội hình chữ V. Cuộc di cư về phương nam sắp bắt đầu, những khâu chuẩn bị cuối cùng đang được tiến hành, những buổi diễn tập cuối cùng trước chuyến đi lớn. Mùa đông đang đến gần.
Constance tận hưởng những niềm vui nho nhỏ giản dị này và quay thuyền trở về sau 1 giờ dạo chơi. Cô muốn chia sẻ những sự ngạc nhiên thích thú này nhưng vì cô không còn ai thân thiết để kể lể về cuộc sống của mình nữa, nên dường như cuộc sống ấy chẳng còn giá trị gì nhiều. Cứ như thể những sự thật của một sự tồn tại chỉ có thể trở nên cụ thể thông qua một nhân chứng ở bên cạnh, cứ như thể, khi không có người đồng hành, tất cả những điều đó chỉ là một tia chớp thoáng qua, mà người ta có thể nghi ngờ, cứ như thể những gì không thể chia sẻ thì ít quan trọng hơn.
Cô có thể gọi cho Neil nhưng không đủ can đảm. Cứ mải giam mình trong sự câm lặng, trong sự cô độc, cô đã dần dần cắt đứt liên lạc với tất cả mọi người, từ người đại diện đến các đồng nghiệp, cho đến cả người bạn thân nhất của mình. Cậu ấy sẽ bắt đầu bằng việc trút xuống đầu cô những lời trách móc, nhắc nhở cô rằng tình bạn không phải là con đường một chiều, chỉ tìm đến khi cô cần. Neil không phải kiểu người thích thương hại cô, cậu ấy chẳng quan tâm việc cô đã mất con trai và chồng, cậu ấy chắc chắn sẽ nói thẳng vào mặt cô những sự thật phũ phàng: cô không hề hỏi thăm, không còn quan tâm đến cậu ấy nữa, hoàn toàn chìm đắm trong sự sinh tồn ích kỷ của mình suốt nhiều tháng qua. Và cậu ấy sẽ đúng, đó là lý do tại sao cô không muốn đối mặt với cậu ấy.
Không, tốt hơn hết là tự mình trải nghiệm những khoảnh khắc này, và mặc kệ nếu cô không thể kể lại chúng để làm chúng tồn tại vượt ra ngoài một cảm xúc ngắn ngủi, một ký ức, và rằng khoảnh khắc này sẽ ngừng tồn tại khi cô quên nó đi.
Cô buộc chặt thuyền vào cầu phao và đi lên tầng cửuh, từ đó cô bước ra phía trước để gọi Solace. Cô không thích để nó khuất tầm mắt quá lâu. Vừa hé mở cửa, cô đã đụng phải một mạng nhện khổng lồ giăng ngay trước mặt và cô hét lên một tiếng, giật lùi lại.
Mạng nhện đung đưa trong không khí.
Một chiếc lưới bắt giấc mơ to hơn cả quả bóng rổ đang nhảy múa trước mắt cô, được treo dưới mái hiên lối vào bằng một chiếc đinh mới tinh.
*Cái thứ này làm cái quái gì ở đây vậy?*
Constance bước tới gần và dùng một tay giữ nó lại để xem xét. Đây không phải là một trong những món đồ lưu niệm bán cho du khách dọc đường ở vùng Onondaga. Chiếc lưới này rất tinh xảo, được đan thủ công bằng một loại dây thừng mảnh, có thể là ruột động vật phơi khô, cùng với sợi lanh, trên đó cắm nhiều chiếc lông chim đủ kích cỡ, trong đó có một chiếc lông lớn trông giống lông đại bàng. Những hạt cườm bằng xương và những viên đá đục lỗ được xen kẽ đều đặn ở các nhánh khác nhau của tấm lưới. Đó là một món đồ thủ công được làm tỉ mỉ và đã sờn cũ, một món đồ cổ.
*Ai lại có thể...?*
Constance rướn người về phía khoảng đất nện nơi chiếc xe của cô đang đỗ giữa những tán cây.
– Có ai ở đó không?
Vài tiếng chim hót xa xa đáp lại cô, ngoài ra không có gì khác. Khu rừng đang thở bằng hơi thở tĩnh lặng và cổ kính của nó, tiếng lá xào xạc của một gã khổng lồ đang say giấc.
Chỉ có thể là Ezra. Không ai khác đi vào con đường của họ, không ai biết cô đang ở đây. Đúng, Ezra. Nhưng tại sao ông ấy lại tặng cô một món quà như thế này? Để dọa cô một trận chết khiếp sao? *Hay chỉ để đảm bảo rằng cháu sẽ nhìn thấy nó và lấy nó...*
Ezra không phải là người xấu, ngược lại là đằng khác. Chủ yếu là một người bạn của bố mẹ cô, ngày xưa, khi họ còn sống. Từ những gì cô có thể nhớ, ông ấy luôn hiện diện trong khung cảnh xung quanh cô, xa cách nhưng vẫn ở đó. Và luôn luôn già nua. Cô không nghĩ mình từng biết ông ấy mà không có mái tóc bạc trắng và những chiếc răng bọc sứ sáng lấp lánh.
Constance kiễng chân lên để gỡ chiếc lưới bắt giấc mơ xuống và đặt nó lên quầy bar trong bếp trước khi bước ra ngoài gọi con chó của mình.
Con chó xuất hiện ở tiếng gọi thứ ba, chui ra từ bụi rậm, lông lá bù xù và đen nhẻm vì cáu bẩn.
– Sol! Mày làm sao thế này! Mày lăn lộn trong bùn đấy à? Thật luôn?
Ngay khi nó đến gần, mùi hôi thối nồng nặc xộc vào mũi Constance khiến cô phải lấy tay áo che mũi lại.
– Ôi, mày hôi quá!
Nó có mùi xác chết. Thứ bám trên ngực nó không phải là bùn mà là thịt và máu thối rữa của một cái xác động vật mà nó đã cọ xát vào. Lũ chó rất thích cái trò kinh tởm này, để che giấu mùi hương của chính mình, một nghi thức săn mồi đã ăn sâu vào gen của chúng.
– Mày đang trêu tức tao đấy à?
Con chó mất đi vẻ hớn hở và cúi gầm mặt xuống.
– Mày không được vào nhà với bộ dạng này đâu, tao cảnh báo trước đấy, phải tắm bằng vòi xịt, không bàn cãi gì hết!
Và trong khi cô đang lên lớp cho Solace, cô không hề nhận ra những vết xước vạch ngang cánh cửa căn chalet sau lưng mình.
Những vết cào sâu hoắm, rộng toác. Rất nhiều vết.
Một thứ gì đó to lớn và đồ sộ đã muốn xông vào.
Chaporia
Bình Luận (0)