Hai kẻ vỡ nát/Chapter 11: RỗngChapter 11: Rỗng
20px

                                       XI: Rỗng

“Phấn khích quá không ngủ được à?”

“Em sợ mẹ sẽ đột ngột xông vào.”

“Không ai quý giấc ngủ hơn bà ấy đâu.”

“Biết vậy nhưng lỡ hôm nay khác thì sao?”

“Ngủ đi khi trời còn lặng, không gió rít lòng lại càng nặng hơn.” Tôi nói, mở mắt nhìn em.

Em nhìn lại. “Vậy hãy ôm lấy em đi. Không phải chỉ là vòng tay. Bằng cả ánh mắt này, âu yếm em bằng nó đi.”

“Mai còn nhiều việc lắm đấy.”

“Bây giờ là 4 giờ sáng rồi anh hai. Sao không dậy sớm làm việc? Đến trưa chỉ cần ngồi đợi giấy tờ mới là được mà?”

Em tiếp tục siết lấy mép áo tôi. Mạnh hơn.

“Nhưng mà… đừng dậy vội. Em nằm thêm chút nữa thôi.”

Tôi nằm im, nhìn trần nhà. Bên ngoài, chim bắt đầu ríu rít – âm thanh như đang đẩy căn phòng trôi khỏi thực tại, nhẹ nhàng mà xa lạ.

“Hừm… dậy thôi.” Tôi nói, mặc cho lòng chỉ muốn khoảnh khắc này kéo dài mãi.

“Biết rồi… nhưng mà 5 phút nữa được không?”

Tôi kéo Mikoto dậy. Em càu nhàu, tóc rối bù, mắt nhắm mắt mở như một đứa trẻ.

“Anh lo giấy tờ. Em gấp quần áo.” Tôi nói.

“Ư… làm xong thì cùng nhau viết tuyệt mệnh nhé. Em nghĩ ra mấy đoạn hay lắm.”

Rồi chúng tôi xuống bếp, rửa ráy lại mặt mũi và đánh răng.

“Hửm?”

“Sao thế?”

“Anh nghĩ nhà mình bị cúp nước tiếp rồi.” Tôi nói, vặn đi vặn lại cái van nước.

“Là mẹ đấy.” Em nói.

“Mẹ?” Tôi nghiêng đầu.

“Mẹ tự báo cắt nước để khỏi chịu tiền hàng tháng.” Em giải thích, mở cánh cửa ra phía sau nhà.

“Chịu luôn.” Tôi thì thầm, lật đật cầm bàn chải và kem đánh răng đi theo em.

Ở bên ngoài, dưới không gian nhợt nhạt, ẩm ướt; em đứng đó, ngáp một hơi dài rồi vươn thẳng người trong vài giây.

Mái tóc rối chưa kịp chải. Đường nét cơ thể quyến rũ, hoang dại. Có thể ví em như một vì sao. Vì sao bao quanh bởi gai nhọn.

“Em đánh trước đi.” Tôi đưa bàn chải và kem cho em.

Mikoto cầm lấy, cúi xuống dùng gáo múc nước mưa từ trong cái thùng kế bên.

“Vãi.” Em thốt lên, lật qua lật lại tuýp kem.

“Sao?”

“Mới hết hạn có vài tuần mà trông kinh thật.” Em ném nó sang hàng rào kế bên rồi tiếp tục nói.

“Cái đấy mà bỏ vào mồm thì khả năng cao sẽ có vài nền văn minh hình thành trong khoang miệng của tụi mình luôn.”

Tôi tiến đến, nhúng khăn mặt vào gáo nước lúc nãy.

“Vậy giờ rửa mặt thôi chứ sao?”

“Ừm.”

Một ý nghĩ vụt qua. Tôi cho hai tay vào thau nước.

“Này.” Tôi nói, liếc nhìn em vừa lau mặt xong.

“Hửm?” Em tiến đến.

“Có con gì trong thau ấy.”

“Thật không?” Em nghi ngờ nhưng vẫn lại gần.

“Nhỏ lắm, cúi xuống nhìn mới thấy.”

“Anh không đeo kính mà mắt vẫn tinh nh–”

Tách .

Tôi hắt nước vào mặt em rồi lùi ra xa vài bước, toan chạy.

Tùm .

Một làn nước đáp vào lưng tôi, lạnh.

“Thế là tuyên chiến nhé!” Tôi nói.

“Chiến nãy giờ rồi!” Em đáp, nhào tới.

Chúng tôi cứ thế đuổi nhau loanh quanh sân sau, những giọt nước văng tung tóe như xoa dịu cái không khi ngột ngạt ở nhà.

“Aha!” Em phá lên khi bắt được tay tôi, còn tôi thì trượt chân, cả hai cùng ngã nhào xuống nền gạch ẩm mốc.

“Ướt hết rồi… biết vậy em nướng thêm 5 phút là ngon.” Em thở dài, nhưng môi lại mỉm cười.

Tôi khẽ cười.

“Dù sao cũng là những ngày cuối rồi.”

Sau khi đùa đã đời, chúng tôi về phòng.

Tôi lôi từng xấp giấy tờ cũ ra khỏi ngăn tủ: Khai sinh, học bạ, sổ tiêm, ảnh, bằng khen, v.v.

Tất cả… dần phai màu, mờ dần rồi hóa tro bay khỏi căn phòng, khỏi tầm mắt tôi.

Mikoto gấp áo sơ mi, áo khoác, khăn quàng. Em ngồi xếp từng lớp, miết nhẹ từng nếp gấp. Có đôi lần, em áp chiếc áo vào má rồi lại đặt xuống, như thể đang từ biệt một phần bản thân.

Chúng tôi làm trong im lặng. Không một lời dư thừa. Không nhạc. Không điện thoại. Chỉ có tiếng kéo mở ngăn, tiếng giấy bị xé, tiếng bật lửa hừng hực trong lòng bàn tay.

Tôi đốt từng tờ giấy – từng ký ức mà thế giới đã trao cho tôi với cái tên Mizuto.

“Xong!” Em vội đứng dậy, nhét hết đống quần áo vào trong rồi thoăn thoắt tiến đến bàn máy tính.

“Xong thì anh cùng qua đây nhé?”

“Ừ.” Tôi đáp.

Lạch cạch lạch cạch.

“Hừm. Không được rồi.”

Lạch cạch.

Em gõ phím – xóa – gõ phím – xóa rồi lại viết tiếp. Chẳng rõ là bao lâu – tôi không đếm nổi nữa. Chỉ biết một điều, tôi đã xử lý xong những giấy tờ của cả hai.

“Viết đi. Viết những gì anh muốn để lại cho họ.” Em đẩy máy tính về phía tôi.

Tôi ngồi xuống ghế, hướng mắt về phía màn hình – ở đó, em đã viết được vài đoạn:

  Có những thứ không giết nổi chúng tôi. Nhưng chúng khiến tôi cảm thấy mình như nứt vỡ, rồi dần dần đánh mất đi hình thù ban đầu.

Nhịn đói, chịu đòn hay mắng nhiếc. Tất cả đều chẳng giết nổi chúng tôi, nhưng lại khiến tôi luôn tự hỏi: “Chết đi thì sao? Không sợ bị con điểm dí đánh, không cần phải nhịn ăn, không phải nằm mãi một tư thế vì sợ rách vết thương.” Mà nếu có đầu thai thì mong tôi và anh chẳng phải sống kiếp người nữa. Có thể sẽ là hai cánh bướm với vòng đời ngắn ngủi, hoặc anh sẽ là những cơn mưa trên vùng đồi cao còn tôi sẽ là ngọn gió tự do.

Nếu muốn nghĩ việc lần này là do chúng tôi bồng bột, do nghĩ mọi thứ đang chống lại mình thì cứ việc, tôi không ngại bị hiểu nhầm đâu. Dù sao thì… chúng tôi cũng đã sống một đời đầy hổ thẹn.

“Hổ thẹn á?”

“Em lấy ý tưởng từ Dazai đấy.”

“Dùng từ hổ thẹn có đúng không đấy?”

“Có lẽ?”

“Anh viết đi, chút em lấy ý tưởng một chút rồi chỉnh lại sau.”

“Anh nghĩ nên có ngày tháng trước.”

Tôi đặt tay lên bàn phím, bắt đầu gõ từng ký tự.

Ngày 13 tháng 11.

Tôi có thói quen chọn ngày hoặc giờ đẹp để bắt đầu hay kết thúc một thứ gì đó. Và lần này cũng vậy khi tôi chọn ngày sinh nhật của hai đứa. Có thể gọi là vừa trùng hợp, vừa nằm trong dự định.

Nếu đang đọc dòng này, nghĩa là tôi và Mikoto không còn hiện diện trong thế giới của các người nữa.

Chúng tôi không chết vì một chút nông nổi. Không phải vì không ai thương. Mà vì mọi sự thương yêu đều đến sai cách, sai thời điểm – và đâm sâu như những nhát dao.

“Đừng có đổ lỗi cho mọi thứ!”

“Làm như mày không sai gì ấy!”

“Chính cái tính cách của mày giết mày thôi. Ít nhất thì hãy cho họ biết là mày cũng đau.”

Biết rồi biết rồi. Nhưng cứ để dành những lời đó ở trước mộ của hai bọn tôi – không là đám tang mới đúng nhỉ? Vì mẹ sẽ không tốn tiền nghĩa trang cho hai đứa nghịch tử đâu.

Đến đám tang, cười thật lớn rồi mắng mỏ chúng tôi tùy thích, và đợi xem người chết sẽ nói gì?

Nếu mối quan hệ này là sai, thì cái gọi là đúng kia… có bao giờ thực sự chạm vào trái tim người sống? Hay cũng chỉ là một nhát dao khác?

Và tồi tệ thay khi ngoài kia, lằn ranh đúng sai luôn mong manh và vô định. Mọi thứ xung quanh luôn đòi hỏi chúng ta phải sống – nhưng là theo cách của nó. Sống sao cho vừa chiếc lồng vàng, sống để không gây khó chịu cho người khác.

 

Chúng tôi chỉ chọn cách cuối cùng để cảm nhận được là mình đang sống, không phải chỉ tồn tại qua bữa. Để cảm nhận sự ấm áp – để được yêu một người, dù cả thế gian chối bỏ.

Không mong gặp lại.

Yozora Mizuto.

“Anh viết như thể sắp chết luôn!”

“Em đang khen đấy à? Và đúng thế còn gì?”

“Anh ăn kẹo cà phê không?”

“Ăn nhiều sâu răng đấy.”

“Một viên thôi mà.”

“Ưm–” Em ngả người về phía tôi, một tay quấn lấy cổ, tay con lại đặt lên má tôi.

Ngọt – đắng.

Viên kẹo trượt qua lại trên lưỡi hai chúng tôi.

Em nhìn, ánh mắt rưng rưng ngỡ như sắp chảy ra thành nước. Đó là ánh mắt của người biết mình sắp chết nhưng vẫn lao vào, vừa nghẹn ngào vừa đê mê hạnh phúc.

Được một lúc, viên kẹo dừng lại ở miệng tôi. Em quay người, bắt đầu chỉnh sửa lại phần của mình.

“Nếu ai đó vô tình thấy được những gì anh em mình đang làm, thì mong những hình ảnh này sẽ ăn sâu vào trí nhớ của họ, như những khối u ác tính, dai dẳng và đau đớn.” Tôi nghĩ thầm.

Dư vị cà phê vẫn còn vương nơi đầu lưỡi, ngọt lịm mà đắng ngắt.

Không khí trong phòng lặng đi như vừa bị hút sạch. Em cúi người viết nốt những dòng cuối rồi rời khỏi vòng tay tôi. Còn tôi thì ngồi nhìn những hạt nắng đầu ngày hắt qua ô cửa kính, mỏng như tờ giấy, lay lắt như mảnh hồn mỏi mệt.

Một cơn gió nhẹ lùa vào, khẽ mình xuyên qua mái tóc của tôi và em.

“Vậy là đã đến lúc.”

Cạch .

Vừa mở cửa, chúng tôi bắt gặp mẹ trong bộ đầm đỏ sẫm, mùi nước hoa xộc vào mũi đầy khó chịu.

Chúng tôi nghe tiếng xe hơi nổ máy. Mẹ mặc đầm đỏ, mùi nước hoa nồng lên như mùi sáp phủ thi thể. Bà không nói gì. Quăng một ánh nhìn trách cứ về phía tôi. Lên xe. Cánh cửa đóng lại. Bụi bay mù theo bánh xe.

“Em đã mong là hai đứa sẽ chiến một trận ra trò với bà trong lần cuối chạm mặt.

“Cho anh xin.”

Chúng tôi lên gác, lấy những thứ cần thiết và bước ra sân sau. Đôi dép cao su lún xuống đất ẩm, để lại những dấu vết rắm rối như mạch máu đông.

Khu vườn nhỏ từng có vài chậu cây – chẳng cây nào sống nổi. Lá úa từ khi còn chưa kịp xanh. Mặc cho mọi nỗ lực cải tạo của bố, đất ở đây vẫn nghèo đến mức không nuôi nổi sự mục nát. Ông thường ra đứng một mình ở góc này, tay đút túi, mắt nhìn xa rồi cuối cùng kéo về những cành cây gầy guộc – thứ có thể kiên cường qua mùa đông, nhưng lại lặng lẽ héo mòn trước nắng ấm đầu xuân.

“Cũng như ông ấy vậy.” Em nói, ôm chiếc túi đen trước ngực. Dáng đứng thẳng, đôi mắt khô cạn, không hoảng loạn, không biểu cảm. Một kiểu trống rỗng lặng thinh.

“Em lấy đủ chưa?”

“Rồi.”

Cả hai cầm xẻng.

Khực.

Rất nhỏ, nhưng đồng thanh. Cái âm thanh như dòng điện dội lên xương chúng tôi, ép bản thân phải ngẩng đầu nhìn đối phương.

Cả hai hí húi đào, không nói.

Lát sau, em lên tiếng. “Anh có nhớ lúc nhỏ, vào cùng khoảng thời gian này, bố từng trồng một cây chuối không?”

“Ừ. Nó chết vào mùa hoa anh đào.”

“...”

Chúng tôi không nói gì thêm, chỉ đào tiếp.

Đất ẩm, lạnh. Không khí đặc quánh, bao quanh người như một lớp da thứ hai. Chim bắt đầu kêu đâu đó – nghe xa xôi tựa tiếng vọng từ một kiếp khác. Trời vẫn độc màu xám xịt – màu của vết bầm tím lâu ngày.

Tôi xúc nhát đất cuối cùng, san bằng mặt đất bằng mũi xẻng. Không có nghi lễ. Không ai tiễn đưa.

Khi trở vào nhà,  tôi cảm thấy có thứ gì đó đã đổi khác. Không hẳn là không khí – mà là nhịp thở của ngôi nhà. Không còn tiếng cọt kẹt như lão già xấu tính. Không còn tiếng gió rít. Không dội lại bước chân. Mọi thứ… lặng quá, như thể nó cũng biết…

Chúng tôi lặng lẽ bước qua từng phòng, không vội, cũng chẳng nấn ná.

Phòng bếp. Nơi thường vang lên tiếng bát đĩa vỡ và tiếng quát đến vỡ họng. Cái bàn bị mất một bên chân phải dùng sách vở cũ để kê lên. Tủ lạnh kêu ù ù, như đang ngân nga khúc truy điệu. Hoặc có lẽ nó biết, sẽ chẳng thứ gì cho nó giữ lạnh nữa.

“Em nhớ hồi mới chuyển vào, bà nội từng cầm dao dọa mẹ, còn bố thì trốn ra đầu ngõ đợi lắng chuyện.” Mikoto tựa lưng vào tường, mắt hướng về phía giàn dao rỉ sét.

“Có á?” Tôi thắc mắc, cố lục lọi trong đống ký ức bám bụi.

“Có mà. Lúc đó bọn mình mới tầm ba bốn tuổi.”

“Anh chịu.”

“Phòng tiếp theo!” Em lớn tiếng, kéo tay tôi khỏi bếp.

Phòng của mẹ. Đúng vậy của riêng bà thôi. Cánh cửa làm bằng nhựa, trắng, nhẹ tênh đứng chặn như một vệ sĩ gác cổng.

“Khóa mất rồi.” Em thì thầm trong khi lùi về phía sau.

“Em định thế nào?”

“Như này này.” Mikoto dùng chân đá mạnh vào cánh cửa.

Rầm.

Nó ngã xuống, vô lực và nứt gãy.

Một luồng khí mát lạnh tràn ra, vây lấy chân tôi. So với phần còn lại của căn nhà, thì phòng của mẹ như một không gian khác vậy. 

Sách trên giá được xếp theo chiều cao, gáy sách mới tinh, chưa xộc xệch một lần nào. Trên bàn làm việc, laptop đặt đúng góc. Lịch giấy, bút máy, sổ ghi chép có đường kẻ mảnh.

Chiếc dương cầm nằm gọn trong góc, phủ một tấm khăn ren. Trên khăn, có bày một tượng thiên nga bằng sứ. Trắng – không mẻ. Chưa bao giờ tôi thấy ai đụng vào.

Mùi căn phòng khác hẳn. Nhẹ, sạch, giống như trong showroom – không có dấu hiệu gì của sự sống thật.

Chăn phẳng, không một nếp gấp lệch. Nệm dày, lún đều ở giữa – một vết lõm quá đều đặn để gọi là vô tình.

Chúng tôi không bước hẳn vào. Chỉ đứng ở ngưỡng cửa.

Tôi quay sang Mikoto. Em chỉ nhìn căn phòng như thể đang nhìn một lớp da khác mà ngôi nhà này mặc khi có người lạ tới chơi.

“Lần cuối em vào đây em đã lén đọc nhật ký của mẹ.”

“May mà không bị phát hiện.” Tôi tiếp lời.

Được một lúc, chúng tôi dựng cách cửa lên. Nhẹ nhàng rồi rời đi.

Phòng tắm – chỗ góc tường còn mảng nấm mốc hình thù như một bản đồ của một nơi không ai muốn đến. Gương vỡ. Khăn vẫn còn treo, dù đã nấm mốc từ lâu.

“Anh nhớ lần tự sát hụt đầu tiên là ở đây…”

“Em cũng chẳng hiểu sao lúc ấy cơ thể lại tự động lao vào nữa. Có lẽ là trực giác? Hoặc bản năng gì đó.”

“Sau lần đấy thì ngày nào em cũng đòi tắm chung.” Tôi nói, mắt liếc lên chiếc vòi sen cũ.

“Ban đầu anh còn  sợ như thể gặp biến thái ấy.” Em đáp

“Thì rõ ràng em là biến thái còn gì?”

“Sai! Anh mới là biến thái.”

“Hừm… anh nghĩ cả hai đều như nhau.”

“...”

“Thôi thì đến chỗ khác nhé.”

Tôi bước đến cầu thang – bậc thứ tư của nó vẫn lún xuống; bậc thứ mười ba có vết nứt như một đường chỉ tay gãy ngang. Tôi từng ngồi ở đó, ôm đầu vì choáng. Mikoto từng trượt chân ở đó, rách trán. Cả hai thường đứng ở đây, nghe mẹ mắng bố.

 “Em nghĩ nhiêu đây là đủ.”

Tôi ngước nhìn, thấy em đứng đợi ở cửa chính. Mắt đỏ hoe. Không có nước mắt. Dường như tất cả những gì khóc được của em đã trôi đi – trôi theo những dòng ký ức về căn nhà.

Tôi đến bên em.

Không ai nói gì. Không cần nói.

Tôi gật đầu.

Em gật lại.

Cánh cửa đóng lại sau lưng.

Cạch.

Một âm thanh khô khốc vang lên như tiếng nắp quan tài vừa khít lại.

Bên ngoài, trời âm ỉ, sắc xám từ trùm xuống như một lớp chăn dày đắp lên khí quyển. Gió thổi, lùa hơi lạnh qua từng lớp vải.

Sau khi nhận hàng – chúng tôi tiến thẳng ra phía biển.

Con đường dốc nhẹ, vắng người. Biển hiện ra ngay sau một dãy nhà cấp bốn – không rộng, không ồn ào hay nhộn nhịp. Nó chỉ im lìm, như một con vật đã được thuần hóa.

Chúng tôi cởi giày. Mikoto kéo quần lên cao, bước xuống trước. Sóng táp vào chân, em cười nhẹ.

“Lạnh lắm nhỉ?” Tôi hỏi.

“Cũng tạm tạm.”

Em gật, lùi lại tay vốc nước tạt lên người tôi, rồi chạy đi. Tôi đuổi theo em. Mỗi lần em quay lại – một lần bình minh lên. Cứ thế chúng tôi chạy dọc bãi biển, quên cả thời gian, quên cả mình.

“Ha!” Em lao đến, ôm chặt người tôi.

Ào .

Cả hai ngã xuống, bọt biển dâng lên phủ qua mắt, mũi, miệng, sau đó rút đi để lại dư vị muối đọng lại.

Cả hai nhìn nhau – bối rối, dính cát, ướt và lạnh.

“Thế nào?”

“Chả thấy ý nghĩa gì… nhưng miễn là có anh.”

“Chúng ta đi thôi.” Tôi nói, giọng vẫn nghẹn lại vì lạnh.

Em gật đầu, nắm tay tôi, đứng dậy.

Điểm cuối là cây cầu cũ – nơi em từng cứu tôi khỏi nhảy xuống.

Chúng tôi đi trong im lặng, chỉ tay nắm tay, bước đúng nhịp nhau – như hai bản thể chung dây thần kinh.

Không gian mỗi lúc một dày hơn. Mù sương đọng trên mí mắt. Không khí xốp lại, nuốt mất âm thanh của bước chân, cả tiếng chim, tiếng gió cũng dội lại như bị bóp nghẹt.

Mỗi bước như đang tiến sâu vào bụng của một thế giới đã ngưng hiện hữu. Không còn ai ngoài chúng tôi. Không cần ai ngoài chúng tôi.

Dòng sông hiện ra, dưới chân cầu, sau lớp sương mờ. Tôi dừng lại.

Một cơn đau lặng kéo từ sau gáy lên đỉnh đầu. Tim tôi đập – không nhanh, không mạnh, nhưng lệch nhịp.

Cây cầu dần chuyển màu – không – không xám – đen. Chỉ còn màu xanh đậm được tô lên nền trời, màu đen nhuốm lên mọi vật.

Tôi thấy bầu trời – xanh – ánh đèn trong phòng ngủ cũ. Một bàn tay vươn ra trong bóng tối. Rồi là lần đầu tiên Mikoto áp mặt vào tôi – không hổ thẹn, không hỏi ý, như thể đó là bản năng. Mắt em lúc đó – không sợ hãi. Chỉ có sự chắc chắn tuyệt đối, như một loài thú hoang đã chọn được nơi sẽ chết cùng.

Rồi… là ánh đèn bếp hắt lên người bố đang treo cổ. Sợi dây hằn sâu vào cổ ông như một lằn ranh – giữa người cha và thứ còn lại.

Cuối cùng là ánh mắt mẹ – khi bà cầm roi. Không giận, không rống. Chỉ bình thản. Như đang sửa một món đồ hỏng không cảm xúc.

Tôi loạng choạng.

Thế giới lại bắt đầu tan ra – đường nét trôi tuột. Không có gì để bấu víu. Không trọng lực. Không người. Không tôi.

Cho đến khi một bàn tay nắm lấy tay tôi – chặt.

Một người – kẻ bất chấp những mảng xanh đen bao phủ vẫn có thể thấy rõ mặt. Tóc ngắn, gầy, tay đầy những vết bầm, cứa, ánh mắt nhạt nhưng như chứa cả ngàn điều muốn nói.

Mikoto.

Mắt nhìn thẳng. Tay vẫn nắm tay tôi – như cái cách em từng làm khi tôi lên cơn đầu tiên sau lần tự sát hụt. Cái nắm tay ấy không mang lại hy vọng, không giữ lại trọng lực. Đủ để tôi biết: mình còn có em.

Tôi nhìn em.

Một khoảng xanh đen vẫn còn đó sau lưng em. Nhưng bàn tay này là thật. Nhiệt độ da là thật. Cả mạch đập khẽ dưới cổ tay cũng là thật.

“Để dòng nước đón lấy hai ta, như cái cách cả hai từng sống. Cùng nhau, thầm lặng, và không ai hiểu nổi.”

Không ai hét. Không có ai gọi. Không tiếng gió rít. Không chuyển động nào rõ ràng.

Chỉ có… một cảm giác nhẹ bẫng. Như thể mọi trọng lượng của đời sống, ký ức, và cơ thể – cùng lúc – bị tháo gỡ khỏi xương.

Tôi không còn cảm thấy đôi chân. Chỉ có em.

Chỉ có một màu.

Xanh.

Rồi đen.

Rồi… không có gì.

Ngày 13 tháng 11. Một ngày xấu trời, âm u và lạnh lẽo. Buổi chiều ngày hôm ấy, người ta nói chúng đi đâu đó, cũng có người nghĩ chúng không có thật. Như thể chưa từng tồn tại. Không ai thấy, không ai biết. Những gì còn lại là một mảnh giấy, hai đôi dép, và thế giới thì bớt đi hai mảnh buồn.

Bình Luận (0)

Vui lòng Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận...