Hai kẻ vỡ nát/Chapter 12: Lễ khóc thuêChapter 12: Lễ khóc thuê
20px

                                    XII: Lễ khóc thuê

“Ướt rồi…”

Tôi ngồi trên băng ghế của lễ tang, tay run run cầm tờ tuyệt mệnh mà bản thân thó được ở hiện trường. Bên cạnh là Hisuiko và Izumi, có vẻ họ không để ý đến tôi mấy.

Nhìn kỹ lại, tôi thấy mắt Izumi đỏ hoe, hướng thẳng về phía trước, không khóc…

“Cũng phải nhỉ? chưa đầy một tháng mà tận ba người bạn ra đi. Đến cả người như cậu ấy cũng sẽ khó giữ lòng.”

Còn Hisuiko… tôi không chắc liệu cô ấy có đang nhìn không nữa. Có lẽ vẻ mặt của cô giống một con người máy đang gặp lỗi hệ thống hơn.

“À ừ tuyệt mệnh.”

Tôi nhìn xuống tờ giấy đang ướt đẫm mồ hôi, bắt đầu đọc lại từng chữ thêm lần nữa.

Ngày 13 tháng 11.

Tôi có thói quen chọn ngày hoặc giờ đẹp để bắt đầu hay kết thúc một thứ gì đó. Và lần này cũng vậy khi tôi chọn ngày sinh nhật của hai đứa. Có thể gọi là vừa trùng hợp, vừa nằm trong dự định.

Nếu đang đọc dòng này, nghĩa là tôi và Mikoto không còn hiện diện trong thế giới của các người nữa.

Chúng tôi không chết vì một chút nông nổi. Không phải vì không ai thương. Mà vì mọi sự thương yêu đều đến sai cách, sai thời điểm – và đâm sâu như những nhát dao.

“Đừng có đổ lỗi cho mọi thứ!”

“Làm như mày không sai gì ấy!”

“Chính cái tính cách của mày giết mày thôi. Ít nhất thì hãy cho họ biết là mày cũng đau.”

Biết rồi biết rồi. Nhưng cứ để dành những lời đó ở trước mộ của hai bọn tôi – không là đám tang mới đúng nhỉ? Vì mẹ sẽ không tốn tiền nghĩa trang cho hai đứa nghịch tử đâu.

Đến đám tang, cười thật lớn rồi mắng mỏ chúng tôi tùy thích, và đợi xem phản ứng của người chết.

Nếu mối quan hệ này là sai, thì cái gọi là đúng kia… có bao giờ thực sự chạm vào trái tim người sống? Hay cũng chỉ là một nhát dao khác?

Và tồi tệ thay khi ngoài kia, lằn ranh đúng sai luôn mong manh và vô định. Mọi thứ xung quanh luôn đòi hỏi chúng ta phải sống – nhưng là theo cách của nó. Sống sao cho vừa chiếc lồng vàng, sống để không gây khó chịu cho người khác.

 

Chúng tôi chỉ chọn cách cuối cùng để cảm nhận được là mình đang sống, không phải chỉ tồn tại qua bữa. Để cảm nhận sự ấm áp – để được yêu một người, dù cả thế gian chối bỏ.

Không mong gặp lại.

Yozora Mizuto.

Tôi dừng lại.

Những chữ này nghe như Mizuto nói chuyện thường ngày. Lạnh, đều, không xin xỏ, không cần được hiểu.

Giống như… cậu ấy đã chết từ trước đó rất lâu – chỉ là hôm nay, xác mới chịu rơi.

“Hừ…” Thở dài một hơi, tôi lấy tay dụi mắt, tay còn lại lật sang trang bên.

Có những thứ không giết nổi chúng tôi. Nhưng chúng khiến tôi cảm thấy mình như nứt vỡ, rồi dần dần đánh mất đi hình thù ban đầu.

Nhịn đói, chịu đòn hay mắng nhiếc. Tất cả đều chẳng giết nổi chúng tôi, nhưng lại khiến tôi luôn tự hỏi: “Chết đi thì sao? Không sợ bị con điểm dí đánh, không cần phải nhịn ăn, không phải nằm mãi một tư thế vì sợ rách vết thương.” Mà nếu có đầu thai thì mong tôi và anh chẳng phải sống kiếp người nữa. Có thể sẽ là hai cánh bướm với vòng đời ngắn ngủi, hoặc anh sẽ là những cơn mưa trên vùng đồi cao còn tôi sẽ là ngọn gió tự do.

Nếu muốn nghĩ việc lần này là do chúng tôi bồng bột, do nghĩ mọi thứ đang chống lại mình, thì cứ việc. Tôi không ngại bị hiểu nhầm đâu.

Tôi không viết những dòng này để xin được thương hại. Tôi không cần mấy bài viết kiểu “giá mà tôi để ý sớm hơn.”

 Không cần “Chúng tôi từng học chung…”

 Không cần “Thật tiếc cho những tâm hồn nhạy cảm.”

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư từng viết: “Sống là một thứ bổn phận trời dúi vào tay, cầm thì khổ mà không cầm thì áy náy.”

Vậy chỉ vì sợ một chút áy náy mà ta phải sống như con người sao? Cách sống mà không được làm người? Làm mình?

Vô nghĩa.

Nếu có ai đọc đến đây mà còn nghĩ: “Cái chết không phải cách giải quyết.”

Thì cứ nhớ rằng:

Chúng tôi đã chọn một chút áy náy, để đổi lại việc được là mình, được chạy thoát khỏi việc sống như con người.

Tôi không cần mọi người tha thứ.

Tôi chỉ mong các người đừng gọi cái chết của tụi tôi là “bi kịch.”

Bi kịch thực sự là khi ta không sống mà chỉ cố tồn tại.

Yozora Mikoto.

“Mình đáng ra nên cảm thấy thế nào nhỉ?” Tôi nghĩ, ngửa đầu nhìn bầu trời.

Lộp bộp.

“Đau buồn? Nhưng mình còn chẳng khóc kia mà… không – có lẽ do mình đã có linh cảm từ trước? Không. Không biết nữa.”

Lộp bộp.

“Mikawa, mưa rồi mà mày vẫn cầm tờ giấy gì vậy? Không sợ ướt hết giấy à?” Câu hỏi của Izumi lập tức làm tôi hoàn hồn.

“Hả? Mưa gì? À, ừ đang mưa mà.” Tôi lắp bắp trả lời.

“Mày mới từ dưới đất chui lên hả?” Hisuiko hỏi.

“Không biết nữa.”

Mưa không đủ to để đuổi người đi, nhưng cũng chẳng dịu dàng để gọi là đưa tiễn. Nó rơi đều, dai dẳng như tiếng cào nhẹ móng tay lên lớp sơn cũ — khiến không gian vừa ẩm vừa ngứa, vừa đau vừa chẳng rõ vì sao.

Tất cả đều mặc đen. Một vài người cầm ô, đi đứng cẩn trọng như đang giữ đạo cụ cho một buổi diễn ngoài trời. Có người lau nước mắt nhưng không thấy mắt đỏ.  Có người đứng cúi đầu như thể đang chờ ai gọi tên để được lên phát biểu. Và có người... thì bật camera, hướng ống kính về phía quan tài rỗng.

Không ai gọi tên họ lần nào. Tất cả đều nói “hai em”, “tụi nó”. Tôi nhìn họ. Không ghét. Không gì cả.

Chỉ là… khó hiểu.

“Họ đang giả vờ sao? Mình không đọc được. Những biểu cảm đó trông thật, nhưng có thứ  gì đó… mình chẳng biết.”

Rồi mẹ họ đến. Cô Yozora.

Tôi từng nghĩ cô ấy là người phụ nữ mạnh mẽ – dạy học giỏi, nghiêm khắc, biết giữ mình trước học sinh mà không tỏ ra quá khó gần, nhưng... đúng chuẩn kiểu người không để con hư.

Cho đến khi cô đứng đó, áo đen, quần tây cùng ánh mắt sắc lẹm – ánh mắt mang tông màu xanh băng, điểm thêm quầng thâm bên dưới. Nhìn thoáng qua thì giống một con báo tuyết – độc lập, kiên cường. Nhưng khi nhìn lại, ta sẽ thấy cô là một người lớn lên cùng những trận bão dữ dội nhất.

“Tôi đã cố hết sức. Có thể vì thương tích tâm lý của tôi mà con tôi cũng sai lệch đi phần nào…” Cô cúi đầu, giọng nghèn nghẹn.

“Có thể tôi đã quá để tâm vào nỗi lo cơm áo gạo tiền mà bỏ qua cảm xúc của chúng... Mong là ở trên thiên đường, bọn trẻ sẽ nghe thấy và hiểu cho tôi phần nào…”

“Sai – không – đúng… không.”

Tôi bắt đầu tự hỏi:

“Rốt cuộc, cô Yozora là ai? Một giáo viên quá nghiêm khắc kể cả khi ở nhà? Hay một người mẹ cầu khẩn sự thấu cảm từ con bằng đòn roi?”

Vậy đấy… tôi có thể từ ánh mắt của cô mà suy luận ra đại khái những gì cô đã trải qua, nhưng khi phải xác định xem cô là kiểu người nào thì tôi lại không thể.

Tôi nghĩ đến Mizuto.

Cậu ấy không phải người dễ hiểu. Mà thật ra, chẳng ai từng hiểu nổi cậu.

Tôi từng nghĩ mình sẽ là người đầu tiên phá được cái vỏ lạnh ấy. Nhưng đến cuối cùng, người duy nhất bước vào được là Mikoto.

Khi quan tài được hạ xuống, tôi nhìn. Chỉ có gỗ. Không có xác.

“Không tin. Mình không tin.” Một suy nghĩ – không – chỉ là trực giác thoáng thì thầm.

“Tiếc thật, dù sao cũng là học sinh giỏi.” Tiếng xì xào lập tức đẩy phăng điều vừa nghĩ đi.

“Hèn chi thấy hai đứa nó kỳ kỳ.”

“Có tin đồn hai bọn nó loạn luân đấy.”

“Bố mẹ bỏ bê thế thì chịu rồi.”

Tôi cúi đầu, gật gù một lúc rồi lại hướng mắt về nơi phát ra cuộc trò chuyện.

Tất cả bọn họ, những người đến đưa tang, ai cũng mang một khuôn mặt. Mí mắt như muốn sập xuống, môi khép chặt, hơi nghiêng người. Từng gương mặt một. Từng câu thoại. Từng động tác. Tất cả đều hợp lý, đều đúng. Đúng như sách giáo khoa.

“À. Ra vậy…”

“Tất cả chỉ là sách giáo khoa. Trong thực tế gần như không có cái vẻ hợp lý đến rập khuôn thế kia… giả dối.”

“Mikoto… tôi nghĩ là… mình đã thấy được nó. Góc nhìn của hai người về mọi thứ.”

Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy xa và rộng đến vậy. Một xã hội hoàn chỉnh ngay trước mắt – hoàn chỉnh vì nó biết đào thải những thứ không vừa khung – hoàn chỉnh vì nó biết giả dối để an ủi cho vết cắt sâu thẳm…

Khi Mikoto còn sống – có người gọi cô là “giả tạo” và “tâm lý bất ổn”.

Khi Mizuto còn thở – nhiều người trách cậu vô tâm, đờ đẫn, “xác chết”.

Và giờ họ chết – những lời ấy trở thành: “Nạn nhân đáng thương”, “tổn thất nhân tài”, “bài học đáng suy ngẫm”.

“Tch.”

Tôi siết chặt tay.

“Có không giữ, mất đừng thương. Còn nếu thương thật, vậy sao lúc sống không làm gì?”

Cổ họng tôi như muốn hét lên điều đó nhưng lại bị lý trí ngăn lại, bởi tôi biết… mình cũng không có tư cách để nói điều đó.

“Ư…”

Tôi vô thức lấy tay che miệng, ngăn không cho bữa sáng trào ra.

“Cảm giác này… giống như khi mình phát hiện ra vết máu của cả hai…”

Tôi nghĩ, mắt vẫn nhìn về phía quan tài đang được chôn cùng đám người khóc thuê.

“Liệu đây có phải những gì mà họ luôn cảm thấy?”

Mỗi lần thấy họ bàn tán về cả hai, vờ tiếc thương thì tôi chỉ cảm thấy muốn phỉ nhổ vào cái thái độ đó… giả tạo đến phát khó chịu.

“Tốt nhất là… đi về thôi. Mình chẳng chịu được nữa. Hơn hết… mình có linh cảm.”

Nghĩ rồi tôi bước khỏi ghế.

“Mày đi đâu vậy?”

“Tao đi vệ sinh chút.”

“Nhanh rồi về nhá.”

“Ừ. Tao đi nhanh thôi.”

“Đi. Trước khi bản thân bắt đầu tin vào những cái gật đầu kia.”

Sau khi nói vài lời với Izumi, tôi vẫy tay với Hisuiko và nhanh chóng rút lui.

Mưa vẫn chưa dứt. Hơi ẩm từ dưới đất bốc lên như một tiếng thở nặng nề, dai dẳng.

Tôi bước dọc con đường cũ.

“Có gì đó không khớp…”

Tôi không có bằng chứng. Cũng chẳng có lập luận nào đủ chắc chắn. Nhưng vẫn có một thứ gì đó – một nhịp thở bị chậm.

Dừng chân ở ngã rẽ, tôi phân vân.

“Lối về bên trái, rẽ phải sẽ dẫn ra hiện trường.”

Phù.

Gió thổi nhẹ qua. Không lạnh. Nhưng như đẩy tôi về phía cây cầu. Tôi biết đoạn đường đó. Đã từng đi qua. Nhiều năm trước, khi còn là học sinh, theo chân Mizuto đến hồ.

Hồi ấy, cậu đứng trên thành cầu, nhìn xuống mặt nước cuồn cuộn.

 Tôi đứng dưới, tay siết cặp, không dám gọi.

Giờ... có một thứ đang gọi tôi.

Không phải giọng.

Không phải bóng.

Chỉ là một loại rỗng.

Một khoảng trống vừa vặn với hai cái tên.

Chạy. Tôi chạy, theo bản năng.

Bịch.

“Tch.”

Cứ thế tôi vấp ngã vài lần rồi lại đứng dậy cho đến khi cây cầu hiện ra. Rộng, vắng người và nằm dưới vùng trời xám lạnh buốt.

Cầu không cao. Nhưng dài. Lát bê tông lấm tấm rêu xanh loang lổ, tay vịn sắt đã gỉ, sơn bong ra từng mảng như da khô của người già.

Có vài người mặc áo mưa, đầu cúi thấp, đeo tai nghe. Có người dừng lại giữa cầu hút thuốc.

Góc bên phải, sát lan can là một quán rượu di động nhỏ – loại xe đẩy có mái bạt thấp, đèn vàng mờ, vỏ lon vứt chồng một góc. Không lời rao, nhưng có một vài người khách. Dựa theo trang phục có lẽ là nhân viên văn phòng.

Vài con mèo lạc nấp dưới chân xe, ướt mèm, mắt nheo lại nhìn từng hạt mưa bé xíu.

Xa hơn, trên thành cầu, ngay vị trí nơi hiện trường có một con quạ đen. Nó nhìn tôi. Rồi quay đầu. Khi thấy tôi đang lại gần, nó bay đi.

Gió trên cầu không mạnh. Nhưng đủ để thổi tóc lòa xòa vào miệng. Tôi gạt nó ra, rồi cúi xuống — nhìn mặt nước bên dưới.

Không có vết máu. Không có vết trầy trên thành. Không một dấu hiệu nào cho thấy ở đây từng có hai con người… rơi xuống.

“Mọi thứ sách đến vô lý… không xác, không máu.”

“Nếu họ đã chết, vậy tại sao không tìm được thi thể? Tại sao? Có lẽ cả hai đã buộc đá vào chân? Nếu vậy thì khi trục vớt đã phát hiện rồi…”

“Hay cô Yozora đã yêu cầu không cần tìm kiếm? Không… sai rồi.”

 

Tôi nhìn về chỗ mép cầu – nơi có lẽ họ đã đứng. Hoặc ngồi. Hoặc nắm tay. Hoặc không làm gì cả.

Không có vết trượt. Không có sợi tóc. Không có cái gì còn lại.

Rào rào.

Ào ạt.

“Không…” Tôi thì thầm, cúi thấp hơn, tay bám vào lan can, thò người nhìn xuống dòng sông. Nước xám xanh. Xiết.

Ào ạt.

Mưa bắt đầu nặng hạt, tiếp tục làm công việc của nó.

Dọn sạch.

Từng giọt rơi trên cổ, vai, lưng, đầu – như thể ai đó đang ném những lời từ chối vào tôi.

“Không tìm được đâu.”

“Không còn gì nữa. Chúng đi rồi.”

Tôi cố kiểm tra lần cuối – nheo mắt, tìm từng chi tiết nhỏ.

Không gì cả.

Không gì cả.

Không gì cả.

Lưng bắt đầu nhức vì cúi lâu. Hai tay lạnh toát. Mắt nhòe đi – không rõ là nước mưa, hay một thứ mà tôi không thể gọi tên đang trào ra.

“Hay là xuống hạ lưu để kiểm tra?”

“Không. Họ chết rồi. Kể cả cảnh sát và cứu hộ cũng không tìm được.”

“Không! Không!”

Tôi quỳ xuống, toàn thân ướt sũng, tay buông thõng.

Tôi nhìn ra sông.

Đó không còn là dòng nước nữa.

Nó là một vết cắt – sâu, lạnh.

Như thể cả thế giới vừa bị rạch ra, và hai người ấy đã chui qua khe rạch đó – không để lại gì ngoài một khoảng trống.

“Mình về thôi. Họ chẳng còn nữa rồi. Dù có đứng đây khóc thét lên, hay gào khản cổ rằng: ‘Tôi đã hiểu được phần nào’ cũng vô dụng.”

Tôi cắn răng, nói nhỏ như thể sợ bản thân nghe được:

“Nếu thực sự còn sống… thì giỏi lắm.”

“Còn nếu đã chết… đành thôi vậy.”

Tôi đứng dậy.

Ào ạt.

Mưa vẫn tiếp tục rơi. Nặng hơn.

Rào rào.

Khoảng hai tiếng kể từ lúc tôi rời cây cầu. Từ khi về nhà, tất cả những gì tôi làm là… không gì cả.

Chỉ khóa chặt cửa phòng, nằm nhìn trần nhà. Mưa vẫn rơi. Nhỏ thôi.

Tôi ngồi trên giường, mắt nhìn từng giọt nước bám trên cửa sổ.

“Tch.”

“Thật tệ khi những ngày thường họ lại không nhớ về những kỷ niệm, chỉ khi có dịp hoặc khi đã xa thì ta lại…”

“Bồi hồi?”

Giọng Mikoto vang lên, quen thuộc, xa xăm.

“Tao sẽ nhớ những trò đùa, cách đảo vần của mày đấy.”

“Tao chưa bao giờ thấy người chiến thắng nào lại buồn bã như mày.”

“?”

“Có thể tao đã thắng đường tình. Nhưng còn cuộc đua lớn hơn, cuộc đua đường đời, thì tao lại đầu hàng, chọn cách tiêu cực để trốn đi, để là chính mình. Còn mày vẫn sống đấy thôi? Tất nhiên nó không đáng mừng đến thế. Nếu còn sống, mày sẽ phải chật vật với nhiều thứ. Nhưng chẳng phải… người trong khuôn khổ như bọn mày luôn cho rằng sống vẫn hơn chết à? Vậy là tốt rồi.”

“Mày xuất hiện chỉ để nói thế thôi sao?”

“Không. Ý tao là… mày có thể buồn hôm nay, có thể gặm nhấm đống ký ức về bọn tao ngày mai hoặc ngày kia hoặc hàng tháng trời –”

“Ừ. Chính xác đấy. Bọn mày đi rồi, còn tao thì quẩn quanh.”

“Mày đâu có bị què phải không? Rồi mày sẽ đứng dậy, đi tiếp. Thời gian phủi bụi lên tất cả, kể cả ký ức về bọn tao.”

“...”

Tôi đưa tay lên cửa sổ. Lạnh.

Rồi không rõ vì sao, tôi bắt đầu nhớ lại.

Cấp hai.

Tôi đã từng thử bước vào đó – thế giới của họ.

Một lần.

Tôi nhắn tin. Gói ghém những suy nghĩ lúc bấy giờ cho Mizuto qua vài đoạn tin nhắn.

Cậu đọc, nhắn lại:

“Mày không cần hiểu tao. Đừng lại gần đây. Làm vậy chỉ tốn thời gian và tổn thương cả hai bên thôi.”

Lúc ấy tôi chẳng hiểu chút gì về cảm xúc của mình, chỉ đơn giản nghĩ đó là một lời góp ý chân thành đã bị Mizuto từ chối.

“Đây là một thách thức. Cậu ta đang dựng tường. Mình sẽ là người phá nó.”

Nhưng rồi, Mikoto — em gái cậu — bước qua tôi. Không cần gõ. Không cần hỏi. Không cần giải thích. Và cánh cửa ấy… mở.

Hóa ra... người ta chỉ mở cửa với người có chìa khóa sẵn.

“Tôi từng nghĩ Mikoto giả tạo. Nhưng giờ nhin lại… hóa ra tôi chỉ ghen tị.”

Tôi thở dài, nhìn sang góc bàn – giữa đống sách xếp chồng là một bộ Tarot – nó vẫn ở đó, từ lần cuối được thanh tẩy.

Trong vô thức, tôi tiến lại, xào bộ bài lên và rút một lá.

The Death.

“Có lẽ việc ra quyết định dựa trên lá bài đã ăn sâu vào tâm trí mình…”

Tôi đứng nhìn lá bài một lúc lâu – nhìn gã thần chết cưỡi trên con ngựa nhạt màu, tay cầm một lá cờ đen được trang trí bằng bông hoa trắng. Xung quanh hắn là những người đang hấp hối.

Tôi không ngạc nhiên. Không sợ. Chỉ một chút… buốt ở ngực, như thể chưa sẵn sàng.

“Có lẽ cũng vì vậy mà mình đánh mất họ.”

“Ha… haha… haha–”

Tôi cười. Như thể giải được bài toán sau hàng giờ vật lộn.

“Hức.”

Nấc một cái, tiếng cười kia nghẹn lại.

“Ư… ư.”

Tôi ngồi bệt xuống sàn, tay cầm chặt lá bài mặc cho thứ trong lồng ngực tuôn ra.

“Mình… mình khóc? Vì ai chứ? Vì họ? Hay vì… những con hình nhân vô định ngoài kia?”

Chúng tôi đứng trên một sân thượng cao, từ đây đám tang trông nhỏ như một buổi tụ họp cuối tuần. Mọi người mặc đen. Ô che đen. Trời cũng đen.

“Có vài người lạ đang cúi đầu, một số thì lau mắt, số khác thì… ờ… chắc là đang lướt điện thoại.” Em nói, mắt vẫn cắm chặt vào ống nhòm.

“Ồ là cô Anzu. Cứng đơ như tượng. Thỉnh thoảng cúi giật.”

“Chắc cô đang nghĩ xem sẽ nói gì với buổi họp phụ huynh.” Tôi nói nhỏ.

“Hisuiko đang đứng – không cô ấy ngồi xuống rồi. Tay đang cầm hoa. Trông chúng nát quá. Còn Izumi thì cầm ô. Ồ mắt nó có vẻ đỏ này.”

“Chúng ta đi được chưa?”

“Chưa đâu. Em thấy bà ấy rồi. Đang nói gì đó. Em đoán là đang tự kể khổ.”

“Còn ai đáng chú ý không?”

“Mikawa.” Em đáp.

“Nó đứng cách đám đông một khoảng. Không che ô. Tóc ướt. Trông có vẻ như đang nhìn vào khoảng không vô định.”

“Em nghĩ nó đang cảm thấy thế nào?”

“Thất bại chăng?”

“...”

“Anh nghĩ sao?”

“Theo em tả thì anh nghĩ nó đang đấu tranh tâm lý đấy.”

Gió thổi qua mái tóc em, không mạnh – chỉ đủ để khiến tôi nhớ rằng… chúng tôi vẫn còn cơ thể. Tạm thời.

Một con quạ đậu lên cột đèn gần đó. Kêu ba tiếng, rồi im.

Chúng tôi rời sân thượng khi đám đông thưa dần.

Không ai nhìn lên. Không ai quay lại. Không ai nghĩ đến khả năng rằng hai người vừa được chôn hôm nay vẫn đang bước đi, mang theo thứ mà họ không bao giờ tìm lại được.

Cả hai kéo vali dọc theo mép đường, băng qua khu phố cũ. Đường ướt. Không khí còn vương mùi đất ẩm và khói nhang chưa cháy hết. Một con mèo hoang nằm co trong thùng xốp, hé mắt nhìn chúng tôi đi qua rồi nhắm lại, như thể chuyện này chẳng liên quan.

Chúng tôi không nói gì.

Chỉ bước.

Cùng nhịp.

 Cùng bóng.

Qua mấy dãy nhà, những dây điện chằng chịt, một tiệm net đóng cửa, rồi một tiệm tạp hóa đang gỡ bảng hiệu.

Cuối con hẻm, bầu trời hửng ra một chút. Không nhiều – chỉ là một mảng sáng nhạt như vết trầy trên bức tranh cũ.

Nhưng cũng đủ để phân biệt.

Tôi nhìn anh. Anh gật.

Không nụ cười. Không nước mắt.

Chúng tôi rẽ vào hẻm, nơi con đường thu hẹp lại giữa hai bức tường bê tông, loang lổ rong rêu.

Bước chân vang lên đều đều.

Xa dần.

Rồi tan vào ánh nắng mỏng như sợi chỉ – trải dài, không biết sẽ dẫn đi đâu.

Bình Luận (0)

Vui lòng Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận...