Hai kẻ vỡ nát/Chapter 8: Đêm qua có xác ngườiChapter 8: Đêm qua có xác người
20px

                              VIII: Đêm qua có xác người.

0 giờ.

Bố đã mất vào hôm nay. Hoặc là hôm qua. Tôi không chắc nữa.

Cơ thể ông đung đưa, lơ lửng giữa trần nhà. Ghế đổ nghiêng, dây thừng siết sâu vào vùng cổ. Mắt nhắm hờ, như đang ngủ.

Không tuyệt mệnh. Không trăn trối. Không kẻ nào để quy tội.

Chúng tôi phát hiện ra ông khi xuống bếp lấy thêm trà gừng. Chỉ vài tiếng trước, ông còn ngồi trong phòng, lắng nghe từng nỗi khổ chúng tôi gói ghém bao lâu nay qua giọng nói – không phán xét, không chen lời, chỉ có cái gật đầu im lặng và vẻ khúm núm rợn người. Một thứ thấu hiểu không lời của một kẻ vỡ nát.

“Gọi cảnh sát? Gọi mẹ? Liệu bọn mình có bị vu tội không? Liệu…”

Trong vô thức, tôi nhìn sang. Mizuto vẫn đứng đó, không cử động, như thể một bàn tay vô hình đang túm lấy anh.

Lần đầu tiên, tôi thấy anh run.

Cạch .

Tôi như thể bị đóng băng, toàn thân nổi da gà. Mắt mở to, trợn lên, hướng về phía thi thể. Hai chân lập tức khép lại ngay hàng.

“Tránh ra. Định khóc đến bao giờ?” Bà nói, thản nhiên và lạnh nhạt như khi chấm bài kiểm tra.

“Không khóc.” Tôi đáp lại.

“Thích thì tự đi mà tổ chức đám tang. Mà thôi khỏi, dọn cái thứ này đi, để nó hôi ra.”

“Đốt hết giấy tờ đi, đừng có để tao bị phiền.”

Bà bỏ đi, tiếng chân vô thanh, lạnh muốt như thái độ của bà trước cái chết của chồng.

“Có khi nào mẹ mới là người ra tay không?” Tôi suy nghĩ rồi quan sát xung quanh. Phòng kín, không có dấu vết xô xát.

“Có lẽ… mẹ chỉ đơn giản là nghe tiếng ghế đổ và xuống kiểm tra?” Tôi tự hỏi, ánh mắt run rẩy nhìn sang Mizuto. Mong tìm được câu trả lời từ anh. Mizuto đứng bên cạnh, cũng chẳng nói gì. Có lẽ anh sợ, hoặc có lẽ… đã quen rồi.

Tôi nhắm mắt.

Chỉ một chớp mắt thôi – như thể trượt khỏi hiện tại, rơi vào đoạn sáng sớm.

Tiếng chuông báo thức. Ánh sáng xuyên qua cửa sổ. Mùi xà phòng rẻ tiền trộn với tiếng gió lọt qua vách gỗ, có chút hơi lạnh thấm qua áo mỏng. Cảm giác được anh ôm… ấm lắm, một thế giới cách xa thực tại – nơi tôi có thể tự do lăn lộn.

Mizuto mở mắt. Mắt anh trũng sâu, gò má gầy.

“Ta còn chính xác 45 phút để tắm, vệ sinh rồi đến trường.” Anh nói, phá vỡ chút nhẹ nhàng buổi ban mai.

Chúng tôi lặng lẽ đứng dậy. Chẳng cần hẹn nhau, chẳng cần gọi. Xuống bếp.

Căn nhà vẫn vậy. Gỗ mục. Tường tróc sơn. Gió thổi qua khe cửa sổ rỉ sét. Bàn ăn xộc xệch, chiếc ghế từ thời còn tấm bé được lót bằng chồng sách cũ. Nắng xuyên qua tấm rèm, đổ bóng méo mó lên sàn nhà ẩm – tạo điều kiện cho nấm lên.

Bố ngồi ở bàn. Còn sống – không chết – chưa chết… vẫn chưa. Bàn tay ông run run, bê bát cháo nguội. Ông nhìn xuống, lưng khòm như một đứa trẻ bị phạt. Mỗi lần mẹ bước đi, ông khẽ giật mình, như thể sợ ánh mắt bà sẽ là hình phạt kế tiếp.

“Ngủ cho chết trương ra đấy, thể dục thì không tập.” Mẹ cất tiếng từ phía bồn rửa. Giọng chua loét như vôi sống.

Không ai đáp. Chúng tôi cũng không định đáp.

Sau khi tắm, chúng tôi lại đến bếp. Mizuto bước đến, lấy ấm nước đun lại. Lách qua mẹ như một cái bóng, không khí giữa hai người lạnh như băng đá, nhưng cũng sục sôi như bom nổ.

Tôi mở tủ, lấy ra gói mì tôm bám bụi. Mẹ bước đến, cọc cằn cầm gói mì lên.

“Quá hạn mới có vài tuần thôi, ăn được. Đớp lẹ lẹ mà con đi học. Có ăn là may rồi. Xưa tao còn không được ăn.” Bà nói.

Cạch .

Tôi quay lại. Bố đánh rơi thìa. Chỉ là tiếng nhỏ thôi. Nhưng đủ để mẹ quay lại.

“Đã bảo là đừng có làm bẩn sàn!” Bà gào lên, như một cái tát vào cả bầu không khí.

Bố cúi gằm mặt. Không nói. Không dám nhặt cả thìa lên.

“Ăn đi.” Mizuto vỗ vai tôi, dọn ra hai bát mì trứng. Như thể anh không nhận ra chuyện gì đang diễn ra vậy.

Tôi ngồi cùng anh. Hai bát mì bé xíu được chia nửa từ một gói, kèm theo nửa quả trứng cho cả hai.

Được một lúc, bố đứng dậy. Chậm rãi đi lấy cây lau nhà.

“Đưa đây!” Mẹ giật lấy nó, lau chỗ vết bẩn, ném cái muỗng vào bồn rửa rồi cuối cùng đem cây lau nhà đi xả.

Bố cứ thế đứng đờ ra một lúc. Sau đó ông lủi thủi đi về kho chứa đồ cuối cầu thang – nơi ông ngủ, sinh hoạt chính.

Cảm giác như ông chỉ còn là một thú nuôi bị ghét bởi chính chủ.

Cháo nguội. Mì thì nát nhừ. Mọi thứ trong căn bếp ấy đều giống như cảm xúc của chúng tôi – mềm nhũn, câm lặng, và sẵn sàng trôi xuống cổ họng như một điều bình thường.

Sau bữa sáng, chúng tôi mặc đồng phục. Cũ, bạc màu, vài chỗ vá lại bằng chỉ trắng. Mẹ liếc qua, không nói gì. Ánh mắt đó – không còn là phẫn nộ, mà là thứ ghê tởm lạnh ngắt như nhìn xác động vật.

“Có lẽ bà ấy biết rồi.”

Trường học. Đáng lẽ là nơi an toàn.

Nhưng hôm nay, mỗi bước chân vào trường như đang đi qua bãi mìn.

“Bọn nó phải không?”

“Ừ, tin chuẩn đấy.”

“Con nhà giáo mà vậy đấy.”

Chỉ mới vài ngày trước, tôi vẫn còn nghe ai đó gọi tên tôi khi vừa bước vào sân. Hôm nay – chỉ có những bước chân lảng tránh và ánh mắt lướt qua như không thấy. Không – họ thấy đấy. Nhưng họ chọn nhìn qua tôi như thể tôi là thứ gì đó không nên tồn tại.

“Cứ như một con thú hoang cần tiêm phòng vậy… mà… cũng đúng.”

Bước lên cầu thang, chúng tôi gặp Hisuiko. Cô đứng ngó ra ban công như thể một vị vua đang quan sát đất nước mình cai trị.

Không chào. Không cử chỉ, bọn tôi chỉ cứ thế bước vào lớp. Thường thì mỗi khi dỗi nhau, chúng tôi cũng sẽ dành ra vài ngày im lặng như vậy.

Nhưng lần này – có lẽ không cứu vãn nổi.

“Ngủ với cả anh trai thì chịu r–”

Ngay khi bước vào lớp, chào đón chúng tôi là Izumi. Cậu đang ngồi cùng một đám con gái khác.

Thấy bọn tôi, cậu ta liền lảng đi nơi khác. Cũng không có lấy một câu chào hay một cái vẫy tay. Mikawa ngồi uể oải gần chỗ cũ của Tamaki, miệng nhấm nháp từng miếng bánh.

Là loại bánh mà Tamaki rất thích, thậm chí từng tranh ăn với Mikawa. “Hay sinh nhật tao mày mua một thùng bánh tặng tao đi.” “Đợi tao bịp được quỹ lớp đã.”

Tôi nhớ về một lần Tamaki vòi quà sinh nhật. Giọng nó vang lên từ hư không như một sợi khói, rồi cũng dần tan đi.

“K–” Tôi bất giác định mở miệng trêu Mikawa theo thói quen… nhưng lại thôi.

Như bắt được tín hiệu từ một đài phát cũ, Mikawa lập tức quay sang bên này rồi lại nhanh chóng né mắt đi.

“Mình chờ đợi gì chứ…” Tôi thở dài, bước vào chỗ ngồi.

“Có lẽ… chỉ mong những kỷ niệm cũ sẽ không giết chết tất cả chúng ta.”

Sau cùng, dù có bị gọi là bệnh hoạn, dù đã bước ra khỏi lằn ranh của cái gọi là “con người”—

thì tôi vẫn cảm nhận được.

Tôi vẫn biết đau, biết yêu, biết sợ hãi.

Tôi… vẫn có trái tim. Và liệu… nó có thể chịu những lời kia thêm được bao lâu?

“Chắc thời gian sẽ sớm cho mình câu trả lời mà thôi…”

Nhưng thứ đầu tiên thời gian đưa tôi lại là một căn phòng. Máy lạnh vù vù, cửa đóng kín.

Tiếng ghế xô vào sàn, tiếng nói chuyện vỡ òa khắp lớp học luồn qua những vách tường, len lỏi vào tai tôi.

Tối. Khó đoán. Run rẩy. Có thể bị phán xét bất cứ lúc nào. Cơ thể tôi nóng bừng, đầu liên tục nhảy số những tình huống bị khép tội và cách tôi phản bác lại những lời đó.

“Đầu tiên, khả năng cao là cô ấy sẽ kiểm chứng về tin đồn, sau đó nói những lời bọc đường.”

“Yozora.” Giọng nữ vang lên – nhẹ, nhưng bén tựa dao mổ. Là giáo viên chủ nhiệm,  dạy quốc ngữ.

“Vâng ạ.” Tôi đáp, vờ nghiêng đầu ngây thơ.

Nghe vậy, cô ấy thoáng cau mày – nhưng rồi lại thôi.

“Ta cần nói chuyện một chút. Về… những lời đồn gần đây.” Cô nói, nhìn vào mắt chúng tôi – không, là nhìn xuyên qua. Như thể cô sợ sẽ bắt gặp thứ gì đó quái dị đang lẩn bên trong con ngươi.

“Haizz… cô sẽ không hỏi những câu để xác thực lời đồn đâu. Một số bạn trong lớp đã đưa ra những bằng chứng, nhân chứng. Và nhiêu đó đủ để kết luận rồi.” Cô thở dài một hơi, dụi mắt.

“Mấy đứa có muốn biện minh gì không?”

“Không ạ.” Tôi và anh đồng thanh. Nghe vậy, cô liền đưa tay lên dụi mắt lần hai rồi tiếp tục thở dài.

 Cô Anzu là giáo viên mới của trường, cả tuổi đời lẫn tuổi nghề đều còn khá trẻ – nhưng khi nhìn vào cô cùng những quầng thâm trên mắt, tôi lại không nghĩ cô trẻ chút nào.

“Cô không thích việc phán xét hay kết tội học trò. Cũng không muốn ra vẻ dạy đời. Nhưng thành thật nhé. Nếu các em còn tiếp tục, thì cô nghĩ các em sẽ rất khổ. Không chỉ bây giờ, mà sau này. Cô không nói nó đúng hay sai, cô chỉ…”

Cô dừng, hít một hơi.

“...cô chỉ nghĩ rằng xã hội này sẽ không dịu dàng với người khác biệt.”

Dụi mắt lần ba.

“Cô hi vọng các em hiểu điều cô muốn nói.”

“Cô từng bảo với cả lớp rằng: ‘Thế giới là một bức tranh vô tận…’”

Mizuto lặp lại, từng chữ rõ ràng như thể đã ghi khắc nó từ lâu. “Con người sống trong bức tranh ấy, mỗi người mang một góc nhìn riêng – và mỗi góc nhìn lại hé lộ một vẻ đẹp khác nhau.

Rồi họ bắt đầu tìm kiếm “điểm nhìn đẹp nhất”, bằng cách gom góp những suy nghĩ chung, những nguyên tắc đã được số đông chấp nhận. Một ngày, họ dừng lại ở một điểm – không chắc là đẹp nhất, nhưng an toàn nhất.

Dần dà, mọi người đều nhìn theo hướng đó. Từ đó, họ tạo ra khái niệm đúng – sai, luân lý – đạo đức, và quên mất những góc nhìn khác cũng từng hiện hữu.

Còn có những kẻ chọn đặt điểm nhìn của mình dưới đáy biển – nơi thế giới phản chiếu qua làn nước méo mó và u tối, nhưng với họ, đó mới là sự thật.

Tiếc thay, suy nghĩ ấy thường bị cắt đứt bằng lưỡi dao mang tên “chuẩn mực”. Họ chỉ còn hai lựa chọn: hoặc hòa vào đám đông, hoặc để mặc biển khơi nuốt chửng.’ Như vậy phải không?” Mizuto đột nhiên nói – nói dài bất thường.

Tôi quay sang, thấy cô chợt tỉnh, như nhớ ra điều gì đó.

“Có lẽ cô đã nhận ra.”

“Cô mừng là em hiểu và ghi nhớ bài giảng của cô.”

“Em rất thích cách ẩn dụ đó của cô.” Mizuto nói.

“Anh hai cũng hay dùng cách ẩn dụ trên vào việc viết lách đấy ạ.” Tôi nói.

“Ừm… cảm ơn em.”

“Nếu hiểu rồi… cô mong các em quay đầu. Có lẽ sẽ bị vào trại vài tháng, nhưng vẫn hơn là đánh đổi bằng cả tương lai.” Cô thuyết phục.

“Bọn em không cần được bảo vệ.” Anh nói.

“Chúng em không chọn cảm xúc này, nhưng nó là thật. Và nếu có một chỗ để thở, một người để níu, thì... chẳng phải đã là lý do đủ rồi sao?” Tôi tiếp lời, nắm lấy tay anh. Run rẩy

Cô thở dài một tiếng rồi đáp. “Vậy à.”

“Hai em có ánh mắt của mẹ mình… Nhưng dường như đã nhìn về nơi khác.”

“Cô rất ngưỡng mộ mẹ hai em – tiền bối Yozora. Từ sự mạnh mẽ đến khả năng giảng dạy. Nhưng có lẽ điểm nhìn của tiền bối quá khác với các em nên hai bên luôn tìm cách tránh mặt nhau nhỉ?”

“Vâng.” Tôi đáp.

“Mình không muốn hỏi câu này, có thể nó sẽ làm cô Anzu khó chịu, nhưng đó là cần thiết.”

“Vậy còn cô? Điểm nhìn của cô là ở đâu?” Tôi hỏi. Nhìn thẳng vào mắt cô.

“Đến 90% cô sẽ trả lời là điểm nhìn của số đông.”

“Cô cũng giống như người khác thôi, nhìn theo điểm nhìn của số đông.” Cô cười nhẹ.

“Lạ thật… có những nụ cười, lại khiến mình cảm thấy bất an hơn cả lời đe dọa.”

“Cô có cố gắng chứ. Chỉ là cũng sợ… sợ không thể giữ nhiều điểm nhìn một lúc. Sợ không đủ khả năng để bảo vệ học trò. Sợ khi nói ra sẽ bị xem là bênh vực, cổ xúy.”

“...”

Một khoảng lặng rơi xuống, như lớp bụi dày bám lên bàn ghế.

Renggg .

“Bọn em hiểu mà. Cô không cần phải cố.”

“Ừ.”

Bọn tôi đứng lên, lặng lẽ rời khỏi phòng. Trước khi đi, tôi nghe một tiếng thì thầm. Không rõ là của cô hay do tôi tự tưởng tượng.

“Yozora Mizuto, Yozora Mikoto. Sau cùng thì… các em cũng chỉ là con người mà thôi.”

Chúng tôi rời phòng giáo viên.

Hành lang bên ngoài trải một lớp sáng và nhợt, lấm tấm từ cửa sổ đến ban công như những vệt máu loãng. Cô Anzu không gọi lại, âm thanh trò chuyện ma mị ban nãy giờ bị tiếng bước chân vang dội và tiếng cười khúc khích.

Chúng tôi băng qua những dãy hành lang, những lớp học, những ánh nhìn dị nghị chưa kịp rút lại. Có người quay mặt, có kẻ che miệng cười chê.

“Là chúng nó đấy.”

“Tao vừa thấy bọn nó từ phòng giáo viên đi ra.”

“Con giáo viên mà vậy đấy.”

“Đừng có lại gần! Dở à?”

“Tởm ghê.”

“Tởm nhất là kiểu im im không nói gì, như kiểu bình thường lắm ấy.”

Toàn mấy lời thì thầm mà chúng nghĩ sẽ chẳng ai nghe thấy.

“Hay chúng nó cố tình thì thầm như vậy nhỉ?”

Anh quay sang nhìn tôi, rồi liếc mắt một cái. Một vẻ điềm tĩnh đến cóng người, nhưng đó cũng là một điểm đẹp của anh. Anh không cần ồn ào để người khác chú ý tới, không cần khoe khoang để họ ngắm nhìn. Tất cả chỉ gói gọn trong một ánh nhìn, chỉ vậy thôi đã đủ khắc sâu anh vào ký ức của tôi.

Tại sao anh lại như vậy? Câu trả lời có lẽ nằm gọn trong đôi mắt anh. Anh im lặng vì bên trong anh đã đủ ồn ào rồi. Loạn thần, ảo giác, tự sát… tôi chưa thực sự nếm qua chúng bao giờ. Nhưng tôi đã chứng kiến. Những đêm anh choàng tỉnh, ôm lấy chặt lấy tôi, những ngày anh đột nhiên quỳ rạp xuống, liên tục nói xin lỗi. Song, anh chưa bao giờ dùng chúng như những lá chắn để biện minh hay tranh luận. Bởi anh biết có nói cũng chẳng ai nghe.

Nhưng, như một phép bù trừ mà chỉ riêng tôi có. Khi nhìn vào ánh mắt ấy, tôi có thể lập tức hiểu anh muốn gì, cần gì, đi đâu. Và lần này là…

Thư viện.

Không gian nơi đây như một thánh địa bị bỏ quên. Mùi giấy cũ, tiếng quạt trần kẽo kẹt, nhòe qua cửa kính như tro bụi.

Tôi ngồi xuống bàn. Chiếc ghế rít lên một tiếng khô khốc. Nhìn sang, tôi thấy anh đang đưa tay, lướt qua từng cuốn sách – nhẹ nhàng và tận hưởng như đang ôm một cục bông mịn.

Tay anh dừng lại ở một bản dịch cũ của “Thần thoại Hy Lạp” cuốn sách tôi đã thấy anh đọc đi đọc lại khá nhiều.

Anh đưa tay xoa nhẹ trang đầu tiên, cẩn thận như thể sợ làm đau con chữ. Sau đó, như một nghi thức lặp đi lặp lại mà tôi đã quen, anh cúi xuống hít hà một trang trong cuốn sách – hít một hơi thật sâu, thở ra nhẹ nhàng rồi lặp lại.

Tôi bật cười, cố không phát ra tiếng.

“Thật kỳ lạ.”

Không phải kiểu kỳ lạ khiến người khác sợ hãi, mà là kiểu khiến tôi vừa có chút khó chịu nhỏ, vừa thêm một xíu hân hoan.

Khó chịu vì anh xây cả một vũ trụ thầm lặng từ những đoạn giấy ố vàng và những câu văn giàu cảm xúc mà không có tôi.

“Anh lại nghiện mùi sách à?” Tôi hỏi.

Anh không đáp, chỉ nghiêng đầu, như đang cố bắt nhịp thở của giấy.

Tôi nhìn lên giá sách. Một cuốn “Lược sử tôn giáo” bám đầy bụi, một tuyển tập thơ méo mó, một cuốn “Animal farm” với gáy sách gãy nát.

Tôi có chút khó chịu với chúng, những cuốn từng được anh cầm lên.

Nhưng… tôi cũng vui. Vui vì anh cũng thích dùng câu chữ để tiếp cận những góc nhìn mới của cuộc sống. Vui vì anh cũng thích những thế giới Fantasy đầy tự do nhưng cũng có những luật lệ chặt chẽ riêng. Vui vì anh vẫn giữ được điều gì đó cho riêng mình – một thứ không thể bị cướp đi.

“Vãi. Cuốn này thực sự có mùi cà phê.” Anh nói, tay cầm “Những người khốn khổ” hít đi hít lại.

“Cho em xem với.”

Rồi tôi mở một trang ngẫu nhiên của cuốn sách, úp toàn bộ mặt vào trong đó.

“Ngọt ngào và tinh tế, pha chút thảo mộc.”

“Arabica?” Tôi hỏi.

“Ừ. Có lẽ thủ thư đã dùng một loại nước hoa nào đó chăng?” Anh nói.

Nghe vậy tôi nhanh chóng chộp đại một quyển gần đó, úp mặt vào.

“Mùi đất, và hóa học trong mực in. Rõ ràng cuốn này không có.”

“Không có…” Tôi nói, đặt cuốn sách về chỗ cũ.

“Ảo nhỉ?” Anh đáp.

“Nổ não ghê.”

“Ừ.”

“...”

“Nếu kiếp sau em được đầu thai làm sách, thì nhớ tìm và đọc em đầu tiên đấy.” Tôi cười khẽ, thì thầm.

“Cỡ em thì khả năng cao đầu thai làm mấy cuốn của George Orwell lắm.”

“Dám lắm. Lúc đó em sẽ có mùi cà phê để anh dễ nhận diện hơn.”

Lần này anh ngẩng lên nhìn tôi. Ánh sáng bám vào tóc anh, vào mắt anh – thứ ánh sáng dịu dàng đến mức đau đớn, mang theo một điều gì đó gần với một lời hứa.

Ánh nắng cuối cùng rút khỏi khung cửa như ai đó lặng lẽ đóng cửa thiên đường.

Chúng tôi về nhà trong im lặng.

Trời đã chập tối. Phố đã lên đèn. Gió hiu hắt, rì rào qua những khe mái nhà cũ kỹ như đang thầm báo trước một điềm gở.

Kéttt.

Cửa nhà kêu lên một tiếng đầy nặng nề, ớn lạnh – như thể chốt gài của một cỗ quan tài.

Rầm!

Tiếng đồ rơi ầm ĩ. Tiếng thở nặng nhọc pha lẫn mùi thuốc lá nhẹ. Một cái tát vang lên – sắc và vang như tiếng roi mây mà ngày trước bố dùng.

Mizuto văng sang một bên bởi cú tát.

“Chúng mày nghĩ tao là con ngu à?”Giọng mẹ cất lên – sắc như móng vuốt xé rách sự yên tĩnh của căn nhà.

“Bọn mày giấu kỹ quá. Tao cũng chẳng biết gì luôn. Nhưng giờ thì biết rồi. Cả trường, cả cái xã hội này biết. Nhục! Nhục đến mức tao không dám ra đường nữa.”

Anh bò dậy, định đứng chắn trước tôi, nhưng bị gậy đánh bóng giáng thẳng xuống lưng – một tiếng bịch kêu lên, kéo theo một hơi thở như bị nén vỡ.

Mùi mồ hôi, mùi thuốc lá, mùi máu loãng hòa với tiếng mắng nhiếc. Quen thuộc nhưng tôi chưa bao giờ hết run.

Tôi cứng đờ, người nhễ nhại mồ hôi, da ga nổi đầy tay, chân lẩy bẩy.

“Bởi tao nói cái giống nhà mày, từ bố tới con như nhau cả thôi. Không làm ra tiền thì cũng ăn bám rồi đi báo tao – làm mấy trò bôi tro trát trấu vào mặt tao, mặt tao!” Bà ta lao đến, siết cổ rồi ghì tôi vào tường sau đó nghiến răng.

Đó là gương mặt của một con thú hoang – bị thương, sẵn sàng xé nát bất cứ thứ gì. Mắt trợn trừng, vằn đỏ như sắp rách toạc khỏi con ngươi. Gò má phập phồng, miệng nghiến răng, nước dãi tràn vành môi.

“Đáng lẽ tao nên giết mày – cả hai chúng mày! Ngay từ khi còn trong trứng cơ.” Rồi bà thả cây gậy xuống, dùng hay tay siết cổ tôi.

“A… ặc.” Tôi thấy chóng mặt, buồn nôn.

“Không ổn. Cơ thể mình… co giật.”

Tôi giãy dụa theo bản năng, cố thoát. Nhưng bà càng ghì chặt tôi hơn.

Bịch .

Bà ta té ngã, bất động.

Tôi khụy xuống, nôn thốc nôn tháo. Toàn nước dãi.

“Ha~ ahaha–”

Tôi ngước lên. Anh đứng đó, cùng cây gậy.

Anh bồi thêm liên tục. Một, hai rồi ba đòn vào người bà rồi lao đến chỗ tôi.

“Mikoto.” Anh thì thầm, ôm trọn tôi trong vòng tay.

“Anh hai…”

Tôi chỉ biết giữ lấy anh – như một sinh linh sắp chết ôm chặt lấy lồng ngực của kẻ còn sống.

Không một ngọn đèn được bật. Giữa căn nhà ấy – chúng tôi chỉ còn nhau.

Đêm đến, khi tất cả những thủ tục sau mỗi trận đòn như băng bó, xức thuốc vết thương đã xong. Tôi lại – dĩ nhiên là không ngủ được. Phần là vì dư âm từ trận đòn ban nãy, phần còn lại là vì căn nhà đã chìm vào im lặng – một loại im lặng mục nát, như thể nơi này đã bị bỏ hoang rất lâu, còn bọn tôi là hai kẻ vô tình lạc vào đống đổ nát.

Cả hai nằm nghiêng. Tôi ôm lấy anh, cố không chạm vào lưng – nơi vừa bị đánh. Cả hai không ngủ. Nhưng cũng không lên tiếng.

Tôi đưa tay chạm vào má anh – nơi vẫn in hằn dấu tay của mẹ. Anh nhìn tôi, không nói gì. Lặng đi.

Tôi ngồi dậy. Một lúc sau, tiếng sột soạt vang lên – anh cũng dậy.

21 giờ 20 phút. Không ai hẹn trước, nhưng cả hai cùng ra khỏi phòng. Hành lang tối như miệng hang. Tiếng gỗ kẽo kẹt dưới chân. Ánh trăng cao cố len qua khe cửa sổ, chiếu chắp vá lên bức tường đối diện.

Chúng tôi đi tới cuối hành lang nơi nhà bếp. Và ở đó – một cái bóng đang ngồi, lưng hơi cong cùng chiếc cốc bốc khói.

Không nói lời nào, không ngẩng đầu. Như thể nó đang đợi chúng tôi tới.

“Là bố.”

Tôi nghĩ, bất giác lùi lại nấp sau anh. Tôi vẫn nhớ như in cái lần ông đổ hết lỗi vì một việc gì đó cho bọn tôi, sau đó còn rải xăng khắp căn phòng. Không chỉ mỗi lần đó mà còn nhiều nữa…

Nhưng. Gương mặt ông – trong ánh sáng xanh xám của trăng – mang dáng vẻ mệt mỏi mà tôi chưa từng nhìn kỹ. Không còn là người đàn ông khúm núm, nhảy cảm. Chỉ là một bóng người – mất hết phẩm giá.

Anh bước tới. Tôi theo sau. Chúng tôi lướt qua ông. Mở tủ lạnh, tìm chút đồ uống được – hoặc chí ít là còn hạn.

“Chỉ còn trà thôi.” Ông lên tiếng. Khàn. Chậm. Như thể cố lăn từng viên đá lên cổ họng.

Anh nhìn ông, khẽ nhăn mặt. Nhưng ông vẫn vậy, vẫn cúi đầu vẻ khúm núm.

“Xin lỗi… xin lỗi.” Ông nói.

Căn bếp xập xệ lập tức lặng đi như thể cả thế giới bên ngoài đã ngưng lại. Ánh trăng chiếu xuống bàn, đổ bóng lên ba bóng người. Rồi chẳng biết từ khi nào. Bọn tôi đã ngồi vào, đối diện với bố – như ba mảnh của một bức vẽ rách nát.

Từng giọt hơi trong cốc trà bốc lên, lượn lờ rồi tan vào gió đêm. Bố ngồi đối diện. Tay ông đặt trên bàn, gầy, run và nhợt nhạt như thể đắp giấy lên.

“Bố là một khối sai lầm. Chọn sai từ nghành học, cho đến cách sống…”

“Con không muốn nghe.” Anh nói.

“Sau chừng đấy thứ mà bố đã làm cho chúng tôi… dù chẳng muốn nói. Nhưng ông chẳng còn đủ tư cách.”

Tôi nhìn bố. Ông chỉ tiếp tục cúi đầu, tay run run như sắp khóc.

“Xi… xin lỗi… bố… xin lỗi.” Ông cúi gằm mặt, toàn thân run dữ dội, có lẽ là đang khóc.

Rồi ông ngẩng đầu, nước mắt dàn dụa. “Bố… không giỏi. Không kiếm ra tiền. Không giữ được ước mơ. Mất việc. Không… bố… là đồ bỏ.”

Không ai ngắt lời. Trong ánh sáng mỏi mệt, mắt ông nhìn xoáy vào không khí – không phải nhìn vào hai chúng tôi, mà là nhìn về quá khứ không được tha thứ của ông.

Tôi nhìn bố, người đàn ông góp phần nhiều vào cái tuổi thơ ẩm ướt của chúng tôi. Kẻ từng thẳng tay đánh đập trong cơn say, tác giả của không ít vết sẹo trên người chúng tôi. Giờ lại ngồi đấy, khóc lóc như thể nài nỉ đám con một ơn huệ.

Càng nghĩ, tôi lại càng nóng máu. Vừa tức giận, vừa cay đắng.

“Ông ấy muốn gì chứ? Đã sống như thế, đã hành hạ mình và anh như thế… giờ còn muốn được yêu thương? Được tha thứ?”

Tôi nghĩ, nhưng một phần nào đấy trong tâm lại ngăn không cho những lời ấy tuột ra.

Cạch .

Mizuto đứng dậy, nháy mắt ra hiệu tôi cùng về phòng.

“Bố xin lỗi! Bố biết… mình chẳng là gì trong mắt tụi con. Xin lỗi vì dùng các con như vật để xả giận. Bố thấy hai đứa thân nhau. Khóc thì ôm nhau. Bị đánh thì che nhau. Bố thấy ganh tị với cái thứ tình cảm mà bố chưa từng có. Với ai.

Tôi cũng đứng dậy, nghiến chặt răng, bước về phía anh.

“Rồi sao chứ?” Tôi nói, nhỏ thôi nhưng có lẽ bố nghe thấy.

“Rồi sao kia chứ? Xin lỗi… chẳng giải quyết được gì.” Tôi nghĩ, siết chặt tay anh.

Gió rít qua khung cửa. Trà cũng ngưng nhả khói.

“Tao biết chứ! Những lúc mẹ mày đánh tụi mày… có lúc tao muốn chen vào. Nhưng tao im. Tao nghĩ: tao có nói gì cũng vô dụng. Tao nghĩ… tao là ai mà can thiệp được?” Ông gào lên.

“Nếu có can thiệp, thì dẫu có thất bại thì ông cũng có thế khiến cho đám trẻ nghĩ rằng mình vẫn được quan tâm, vẫn được yêu thương. Nhưng ông lại tiếp tục chọn sai.” Tôi nói.

“Thế nên tao mới là đồ bỏ đi! Mới là kẻ vô dụng không kiếm ra tiền đấy! Nếu lúc đó tao nghĩ được như thế… nếu… nếu… nếu…” Ông gồng giọng hét lên, nhưng rồi khàn dần rồi im hẳn.

“...”

21 giờ 57 phút.

“Xin lỗi… xin lỗi…”

Sau một hồi, gian bếp chỉ còn lại tiếng thì thào “xin lỗi” liên tục từ ông.

Mizuto bước đến, ánh trăng hắt lên gương mặt anh – gầy. Không nét giận. Không cau mày.

Anh kéo ghế, ngồi đối diện bố.

“Bố biết không,” Mizuto cất giọng, “Con ghét rất nhiều thứ về nhà mình.”

“Anh hai –”

“Con ghét những buổi chiều đói khát. Những đêm nghe tiếng mẹ chửi, rồi tiếng tay vả vào da thịt. Con ghét việc phải tính toán từng đồng tiết kiệm cho hai anh em. Ghét luôn cả tiếng bước chân của mẹ – vì nó báo hiệu thảm họa.” Anh ngắt lời tôi.

Mizuto nhìn thẳng vào mắt người đàn ông – như nhìn vào một tấm gương đã nứt.

“Tại sao anh…”

Tôi bối rối, không biết anh đang muốn làm gì.

“Bố là phần câm lặng của ngôi nhà. Là sự bất lực được nhân cách hóa. Và ít ra… bố vẫn ở đây. Giữa đêm. Đối diện. Lắng nghe.”

Gió đêm lùa qua khe cửa, thổi nguội cốc trà gừng. Đến lúc này tôi mới nhận ra.

“Ông không xin lỗi vì muốn được tha thứ.”

Ông xin lỗi là để chúng tôi thấy được ông vẫn còn chút tình thương, chút hối lỗi mặc cho việc có được tha thứ hay không. Và lời xin lỗi ấy đã khắc sâu vào ký ức tôi. Không chờ đợi tôi tôi tha thứ, chỉ mong một ngày tôi hiểu được suy nghĩ của ông.

“Con nghĩ… dù bố không làm được gì, thì việc bố không rời bỏ thế giới –  cũng là một hình thức dũng cảm.” Anh nói tiếp.

Tôi thấy bàn tay bố run. Mizuto không nhìn, chỉ lặng lẽ uống cốc trà mà ông đã rót từ đầu buổi.

“Con không cần bố làm gì cả. Nhưng nếu một ngày, tụi con cần – và bố vẫn còn ở đây – chỉ cần đừng ngoảnh mặt đi.”

Anh nói rồi đứng dậy, đẩy ghế rồi rời đi.

Chỉ còn tôi nán lại.

“...việc tha thứ lúc này… có lẽ là rất khó với con. Nhưng cảm ơn bố. Cảm ơn vì đã giúp Mizuto giãi bày tâm sự, cảm ơn vì là một người không chạy trốn sự thật…” Tôi nói, làm một hơi hết cốc trà của mình rồi chạy theo anh.

Sau lưng, giọng bố – nghèn nghẹn, nhưng rõ:

“Ừ. Cảm ơn hai con…”

22 giờ 10 phút. Chúng tôi về phòng.

23 giờ 59 phút. Không ngủ được. Tôi và anh quyết định xuống bếp lấy thêm một ít trà gừng.

Dưới bếp. Chiếc ghế đổ nghiêng. Không khí như bị rút sạch. Bàn tay ông buông thõng, một tay vẫn còn nắm nửa điếu thuốc cháy dở.

Dây siết sâu vào cổ, để lại vết lõm bầm tím. Mắt ông nhắm hờ – như đang ngủ. Không co giật. Không chống cự.

“Vậy là ông… đã không chịu nổi nữa.”

Một sự ra đi lặng lẽ đến tàn nhẫn.

0 giờ. Bố đã mất vào hôm nay. Hoặc là hôm qua. Tôi không chắc nữa.

0 giờ 20 phút. Sau khi mẹ rời đi. Tôi ngồi xuống, không tựa vào đâu. Tay chạm sàn – lạnh, dơ, bụi.

Tôi vẫn không khóc. Không vì không buồn. Mà vì cảm xúc đã bị rút sạch – như thể tôi đã khóc sẵn từ bao lâu rồi.

Mizuto đứng cạnh cái xác đã được tháo xuống, tay chống cằm.

“Mikoto… em có nhớ mình từng nói gì về tự sát để trốn đi không?” Anh hỏi tôi, mắt nhìn đăm chiêu vào bố.

“Anh định…”

“Chỉ lần này thôi, bố… sẽ không còn là người thừa. Ông sẽ giúp chúng tôi sống – bằng cái chết của mình.” Mizuto siết chặt tay.

“Anh định dùng bố để…?” Tôi hỏi.

“Mười ba ngày… mười ba ngày thôi chúng ta sẽ có một tương lai mới. Không còn căn nhà cũ kỹ, không ai phán xét chúng ta nữa, không ai đánh đập ta nữa… một lối ra.”

Bình Luận (0)

Vui lòng Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận...