20px

Ghen tuông là một loại gia vị lạ lùng. Một chút thì làm món ăn thêm đậm đà, nhưng lỡ tay bỏ nhiều quá thì nồi canh sẽ đắng ngắt, khó nuốt vô cùng. Ở tuổi 15, chúng tôi là những đầu bếp vụng về, nêm nếm cảm xúc một cách bừa bãi, để rồi chính mình phải nhăn mặt vì cái vị chát chúa của nó.

Tin đồn về "nhà thơ cóc" lan nhanh hơn cả dịch cúm gà. Chỉ sau một ngày, cả khối 9 đều biết thằng Nam lớp 9A làm thơ tặng con Duyên lớp 9A.

Điều đáng ngạc nhiên là Huy Guitar - đàn anh lớp 11 - lại đón nhận tin này một cách bình thản đến mức đáng ngờ.

Chiều thứ Sáu, tôi đang hì hục bơm xe ở lán xe trường thì Huy xuất hiện. Anh ta dắt chiếc mini Nhật xanh ngọc bích, tóc chải gel bóng loáng, trên môi nở nụ cười nửa miệng đầy vẻ kẻ cả.

- Chào thi sĩ! - Huy vỗ vai tôi. Cái vỗ vai nhẹ hều mà làm tôi thấy nặng trịch như bị đá đè.

Tôi ngẩng lên, tay vẫn cầm cái bơm, mặt mũi lấm lem dầu mỡ - lại là dầu mỡ, kẻ thù của sự lãng mạn.

- Chào anh.

- Anh nghe Duyên kể rồi. - Huy tựa lưng vào cột nhà xe, dáng đứng điệu nghệ như người mẫu. - Em làm thơ tình tặng Duyên hả? Khá lắm. Tuổi trẻ tài cao. Hồi bằng tuổi em, anh chỉ biết bắn bi thôi.

Tôi nóng mặt. Câu khen của hắn nghe sao mà... xỏ xiên thế. "Hồi bằng tuổi em" - hắn nói như thể hắn là ông cụ bảy mươi tuổi đang nhìn xuống đám cháu chắt chút chít. Hắn đang ngầm khẳng định: "Em chỉ là trẻ con, còn anh mới là người lớn."

- Thơ con cóc ấy mà anh. - Tôi đáp cụt lủn, cố nén cơn bực.

- Ừ, thơ con cóc cũng có cái hay của nó. Ngây thơ, hồn nhiên. - Huy cười, nụ cười làm lộ hàm răng trắng bóc. - Nhưng mà Nam này, con gái bây giờ họ thích những cái gì sâu sắc, lãng mạn kiểu... trưởng thành hơn cơ. Thơ vè nghe cho vui thì được, chứ để rung động thì khó đấy.

Nói rồi, hắn nháy mắt với tôi một cái đầy ẩn ý, rồi dắt xe đi thẳng ra cổng, nơi Duyên đang đứng đợi.

Tôi đứng chôn chân tại chỗ, tay bóp chặt cái tay cầm bơm xe muốn nát vụn. Hắn dám chê thơ tôi là "trò vui"? Hắn dám coi thường tình cảm của tôi?

Cơn tự ái bùng lên dữ dội. Tôi quăng cái bơm vào góc tường, nhảy lên con ngựa sắt già nua, đạp hộc tốc đuổi theo. Tôi phải cho hắn thấy, trẻ con xóm Chùa không dễ bắt nạt đâu!

Ra đến cổng trường, tôi thấy Huy đang thực hiện một hành động mang tính "sát thương" cực cao.

Hắn rút từ trong cặp ra một thứ. Không phải kẹo, không phải sổ tay. Đó là một chiếc băng cassette.

- Tặng Duyên nè. - Huy nói, giọng trầm ấm - cố tình nói to để tôi đi phía sau nghe thấy. - Anh đã thức cả đêm qua để thu âm đấy. Mặt A là những bản Piano không lời của Richard Clayderman, mặt B là mấy bài anh tự đàn và hát.

Duyên cầm lấy cuộn băng, mắt sáng rực lên như đèn pha:

- Trời ơi! Anh tự thu âm ạ? Công phu quá vậy! Em thích Richard Clayderman lắm!

- Ừ, nghe cho tâm hồn thư thái. - Huy liếc xéo tôi một cái. - Chứ nghe mấy thứ ồn ào hay đọc mấy cái linh tinh, đau đầu lắm.

Tôi nghiến răng ken két. "Mấy cái linh tinh" đích thị là ám chỉ thơ của tôi rồi.

Một sự so sánh đau đớn diễn ra trong đầu tôi:

Quyển sổ tay rách nát, chữ viết gà bới, thơ con cóc vs cuộn băng cassette xịn, nhạc cổ điển, giọng hát ngọt ngào.

Thằng nhóc lấm lem dầu mỡ vs chàng thư sinh trắng trẻo, tài hoa.

Tôi thua trắng bụng. Thua ngay trên sân nhà.

Duyên cẩn thận cất cuộn băng vào cặp, nâng niu như trứng mỏng. Hành động đó như một gáo nước sôi tạt vào mặt tôi.

- Duyên! - Tôi không kìm được, gọi giật giọng.

Hai người họ quay lại.

- Gì đó ông? - Duyên hỏi.

Tôi đạp xe vượt lên, chắn ngang đầu xe Huy - một hành động cực kỳ "trẻ trâu" nhưng lúc đó tôi cho là ngầu. Tôi nhìn Duyên, thở hồng hộc:

- Đừng có nghe mấy cái nhạc sến súa đó! Hư tai đấy!

Duyên ngớ người:

- Ông nói cái gì vậy? Nhạc không lời mà sến gì?

- Sến! Cực kỳ sến! - Tôi gân cổ lên cãi cùn. - Toàn mấy cái tiếng tùng tùng xèng xèng ru ngủ. Mày nghe xong rồi ngủ gật ngã xe đấy!

Huy bật cười. Tiếng cười của hắn nhẹ nhàng nhưng đầy vẻ thương hại:

- Nam à, em không biết thưởng thức thì đừng chê bai. Cái này gọi là nghệ thuật hàn lâm. Chắc em chỉ quen nghe nhạc đám ma ở xóm Chùa thôi nhỉ?

Câu nói đó chạm đúng vào nọc của tôi.

- Còn hơn cái loại điệu chảy nước! - Tôi hét lên. - Đàn ông con trai gì mà suốt ngày đàn ca sáo nhị, chải chuốt bóng mượt. Có giỏi thì xuống ruộng cày xem ai hơn ai?

Không khí chùng xuống. Duyên nhìn tôi, ánh mắt từ ngạc nhiên chuyển sang thất vọng.

- Nam! Ông quá đáng rồi đó! - Duyên gắt. - Tự nhiên ông gây sự với anh Huy làm gì? Anh ấy có làm gì ông đâu?

- Nó... à anh ta chê thơ tôi! - Tôi chỉ tay vào mặt Huy.

- Anh ấy chỉ góp ý thôi mà! Ông làm gì mà xù lông nhím lên thế? - Duyên lắc đầu. - Tui không ngờ ông lại hẹp hòi như vậy. Tránh đường cho tụi tui đi!

Duyên dắt xe lách qua tôi, đi thẳng. Huy nhìn tôi, nhún vai một cái vẻ "thấy chưa, chú em còn non lắm", rồi đủng đỉnh đạp xe theo Duyên.

Tôi đứng trơ trọi giữa đường, bụi tung mù mịt xung quanh.

Tôi đã thua. Không phải thua vì cuộn băng cassette, mà thua vì sự ghen tuông mù quáng đã biến tôi thành một kẻ xấu xí, hằn học và vô lý trong mắt Duyên. Tôi muốn thể hiện mình là người lớn, nhưng cách hành xử của tôi lại trẻ con hơn bao giờ hết.

Tối hôm đó, tôi không viết thơ, cũng không xé giấy. Tôi nằm trùm chăn kín mít, dù trời nóng chảy mỡ.

Tôi nhớ lại ánh mắt thất vọng của Duyên. Ánh mắt đó đau hơn cả ngàn lời chê bai của Huy.

Bỗng nhiên, có tiếng gõ cửa sổ cộc cộc.

Tôi lờ đi.

Tiếng gõ lại vang lên, dồn dập hơn. Cộc cộc cộc!

Tôi bực bội tung chăn, mở cửa sổ.

Thằng Tí sún đang đứng đó, tay cầm hai cây kem ốc quế đang chảy nước ròng ròng.

- Ăn không? - Nó hỏi, nhe răng cười.

- Không! Đang bực. - Tôi định đóng cửa.

- Con Duyên nhờ tao đưa. - Tí chặn cửa lại. - Nó bảo kem hạ hỏa tốt lắm. Với lại... nó bảo hôm nay mày "xấu tính" dễ sợ, nhưng nó tha cho lần này vì nó biết mày đang bị bệnh.

- Bệnh gì? - Tôi ngơ ngác.

Tí dúi cây kem vào tay tôi, nháy mắt:

- Bệnh "Hoạn Thư". Tức là bệnh ghen đó cha nội! Duyên nó bảo: "Nói ổng là tui nhận băng của anh Huy vì lịch sự thôi, chứ tui có máy cassette đâu mà nghe. Nhà tui cái đài hỏng từ đời Tám Hoánh rồi".

Tôi sững người. Ừ nhỉ! Nhà Duyên làm gì có đài cassette! Bố nó bán đồng nát cái đài cũ từ năm ngoái rồi.

Vậy là... Duyên nhận quà chỉ để Huy vui lòng, và nó cất vào cặp chỉ vì nó... không dùng được?

Tôi nhìn cây kem trên tay. Vị socola ngọt lịm đang tan chảy.

- Nó còn nhắn gì nữa không? - Tôi hỏi, giọng dịu hẳn đi.

- Có. - Tí vừa liếm kem vừa nói. - Nó bảo: "Nói với ông Nam là thơ ổng dở tệ, nhưng mà tui thuộc lòng hai bài rồi. Chừng nào ổng viết bài mới thì đưa tui chép vô sổ tay riêng".

Tôi phì cười. Nỗi buồn bực, sự ghen tuông vô lý ban chiều bỗng tan biến như bọt xà phòng.

Hóa ra, trong cuộc chiến giữa nghệ thuật hàn lâm và thơ con cóc, chưa chắc kẻ sang trọng hơn đã thắng. Bởi vì đôi khi, người ta không cần những bản giao hưởng vĩ đại, người ta chỉ cần những vần thơ ngô nghê nhưng chân thật, được viết bởi một kẻ hiểu rõ cái đài nhà mình đã hỏng từ bao giờ.

Tôi cầm cây kem, ngước nhìn lên bầu trời đầy sao.

- Tí này.

- Gì?

- Mai tao sẽ viết một bài thơ về cây kem.

- Thôi xin can! Mày ăn giùm tao cái đi, chảy hết ra tay rồi kìa!

Mùa thu ở quê tôi không có lá phong đỏ như trong phim Hàn Quốc, cũng chẳng có sương mù lãng mạn như Đà Lạt. Mùa thu quê tôi là mùa gặt. Mùa của rơm rạ, của bụi bặm, của những tấm lưng áo ướt đẫm mồ hôi và của cái nắng hanh hao vàng như mật ong già.

Chính trong cái khung cảnh lấm lem và ngai ngái mùi bùn đất ấy, tôi đã tìm thấy một "bài thơ" đẹp nhất đời mình – bài thơ không viết trên giấy, mà viết trong một đôi mắt.

Chủ Nhật. Cả xóm Chùa đổ ra đồng.

Nhà Duyên neo người - bố nó đau lưng, mẹ nó sức yếu, nên tôi và thằng Tí xung phong làm "thanh niên xung kích" sang gặt lúa giúp. Nói là giúp cho oai, chứ thực ra hai thằng chủ yếu làm chân sai vặt: vác lúa từ ruộng lên bờ và canh chừng mấy con gà không cho vào mổ trộm thóc.

Cánh đồng tháng Mười trải dài như một tấm thảm vàng rực rỡ, nhấp nhô theo từng đợt gió. Tiếng máy tuốt lúa xình xịch, tiếng người í ới gọi nhau, tiếng xe bò lọc cọc tạo nên một bản hợp xướng ồn ào nhưng đầy sức sống.

Tôi đang hì hục vác một bó lúa to tướng, mồ hôi mẹ mồ hôi con thi nhau chảy ròng ròng xuống mắt cay xè. Thằng Tí bên cạnh cũng đang thở hồng hộc như trâu cày, cái áo ba lỗ của nó vắt vẻo trên vai.

– Nghỉ tay chút đi tụi bay ơi! – Mẹ Duyên gọi vọng từ dưới gốc cây gạo già. – Lên uống bát nước chè xanh cho lại sức!

Tôi quăng bó lúa cái phịch, nắn nắn cái vai đau nhừ, rồi chạy vội lên bờ đê tìm bóng mát.

Duyên đang ngồi ở đó.

Hôm nay Duyên không mặc áo dài trắng, cũng không mặc đồ đi học. Nó mặc bộ đồ bà ba màu nâu sồng cũ kỹ của mẹ, ống quần xắn cao đến đầu gối, để lộ đôi bắp chân trắng ngần lấm tấm vài vết bùn khô.

Đầu nó đội chiếc nón lá đã sờn mép, dây quai nón bằng lụa màu tím nhạt thắt hờ dưới cằm.

Duyên đang rót nước chè ra bát. Thấy tôi và Tí đi tới, nó ngẩng lên.

Vành nón lá rộng che khuất nửa khuôn mặt nó, chỉ để lộ cái cằm thon và đôi môi đang mím lại vì nắng.

– Uống đi, nước vối mẹ mới hãm đó, có bỏ thêm gừng cho ấm bụng. – Duyên đưa bát nước cho tôi.

Tôi đón lấy bát nước bằng hai tay vẫn còn đen thui vì bụi lúa. Tôi ngửa cổ uống ực một hơi. Vị nước chát nhẹ, ngọt hậu, thơm mùi lá vối và cay nồng vị gừng lan tỏa trong cổ họng, xua tan cơn khát cháy bỏng.

– Đã quá! – Tôi quệt miệng, thở hắt ra.

Tôi định trả cái bát cho Duyên, thì một cơn gió đồng bất chợt thổi tới.

Cơn gió mạnh lật ngửa vành nón lá trên đầu Duyên ra sau.

Và trong khoảnh khắc ấy, thời gian như ngừng trôi.

Nắng chiều xuyên qua tán lá cây gạo, rọi thẳng vào khuôn mặt Duyên. Tôi nhìn thấy đôi mắt nó.

Đó không phải là đôi mắt đen láy tinh nghịch thường ngày. Dưới ánh nắng hanh vàng của mùa thu, đôi mắt ấy bỗng trở nên trong veo, thăm thẳm và ánh lên một màu nâu nhạt pha chút xanh biếc kỳ lạ. Nó giống như mặt nước hồ thu phẳng lặng, phản chiếu cả bầu trời cao rộng và những tàng cây xanh ngắt bên trên.

Đôi mắt ấy nhìn tôi. Không chớp.

Trong đáy mắt ấy, tôi thấy hình bóng của chính mình – một thằng con trai tóc tai bù xù, mặt mũi lấm lem, đang cầm cái bát sành sứt miệng. Nhưng lạ thay, qua ánh nhìn của Duyên, tôi không thấy mình xấu xí. Tôi thấy mình được bao bọc bởi một sự dịu dàng, êm ả đến nao lòng.

Cái nhìn đó không có sự khiêu khích của tuổi mới lớn, không có sự e thẹn sượng sùng. Nó tĩnh lặng. Một sự tĩnh lặng biết nói.

Nó như muốn bảo: "Cảm ơn ông nhé. Cảm ơn vì đã ở đây, giữa cái nắng nôi cực nhọc này, cùng với tui."

Tim tôi lỡ một nhịp. Rồi hai nhịp.

Mọi âm thanh ồn ào của tiếng máy tuốt lúa, tiếng xe bò, tiếng thằng Tí đang húp nước soàn soạt bên cạnh... tất cả đều lùi ra xa, nhạt nhòa dần. Chỉ còn lại đôi mắt biếc dưới vành nón lá ấy là rõ nét nhất.

Tôi bỗng nhớ lại những câu thơ con cóc mà tôi hì hục viết trong cuốn sổ tay đen.

"Duyên ơi cái kẹp trên đầu..."

"Xe Huy bóng loáng màu xanh..."

Tất cả bỗng trở nên vô nghĩa và nực cười.

Tại sao tôi lại cố gắng dùng những câu chữ sáo rỗng để mô tả Duyên? Tại sao tôi lại ghen tị với tiếng đàn của Huy?

Vẻ đẹp của Duyên không nằm ở những bản nhạc Richard Clayderman xa xôi. Vẻ đẹp ấy nằm ngay đây, trong bộ quần áo nâu sồng lấm lem, trong mùi hương lúa mới nồng nàn, và trong cái cách vành nón lá nghiêng nghiêng che đi những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán.

Đó là vẻ đẹp của một người con gái đã bắt đầu biết lo toan, biết gánh vác, nhưng vẫn giữ được tâm hồn trong trẻo như sương sớm.

– Mặt tui... dính nhọ nồi hả? – Duyên bỗng lên tiếng, cắt đứt dòng suy tưởng của tôi. Nó đưa tay lên sờ má, hơi bối rối vì thấy tôi nhìn chằm chằm.

Tôi giật mình, vội vàng quay mặt đi, tai nóng bừng:

– Ờ... không. Tại... tại cái nón của bà... rách một lỗ kìa. Nắng chiếu vào trán thành cái chấm tròn, nhìn mắc cười.

Tôi nói dối tệ hại.

Duyên phì cười, kéo vành nón xuống che nửa mặt:

– Nón của mẹ đó. Mấy bữa nay nắng quá, tui đội đại. Xấu lắm hả?

– Không. – Tôi buột miệng. – Đẹp.

– Hả? – Duyên ngớ người.

– Ý tui là... lúa năm nay đẹp. Hạt chắc mẩy. – Tôi chữa thẹn, đứng phắt dậy. – Thôi, làm tiếp đi. Tí ơi, đi vác lúa!

Thằng Tí đang nằm thiu thiu ngủ, bị tôi lôi dậy, càu nhàu:

– Từ từ, cơm chưa trôi xuống ruột mà bắt làm. Mày sung sức thế?

Tôi không trả lời, lao xuống ruộng như một con thiêu thân. Tôi cần vận động mạnh để tim đập bình thường trở lại.

Cả buổi chiều hôm đó, tôi làm việc hăng say gấp đôi bình thường. Tôi vác những bó lúa nặng trịch mà thấy nhẹ bẫng như bông. Thi thoảng, tôi lén nhìn lên bờ đê. Duyên vẫn ở đó, cái nón lá nhấp nhô, tay thoăn thoắt buộc lúa.

Và mỗi lần vành nón ấy hất lên, tôi lại thấy một khoảng trời biếc xanh rụng xuống tim mình.

Chiều muộn, khi xếp xong xe lúa cuối cùng, Duyên đi tới gần tôi. Nó rút trong túi áo bà ba ra một cái gì đó, dúi vào tay tôi.

– Cho ông nè.

Tôi mở tay ra. Đó là một bông lúa nếp non. Những hạt lúa còn ngậm sữa, căng mọng, thơm nức mùi cốm mới.

– Lúa nếp cái hoa vàng đó. – Duyên thì thào. – Mẹ tui trồng riêng một góc để làm cốm. Tui lén ngắt cho ông cái bông đẹp nhất. Ông... ông cắn thử đi, ngọt lắm.

Tôi đưa bông lúa lên miệng, cắn nhẹ một hạt. Vị sữa lúa ngọt thanh, dẻo thơm tan ra trên đầu lưỡi.

Ngọt. Ngọt hơn cả kem socola. Ngọt hơn cả kẹo xí muội. Và chắc chắn là ngọt hơn bất kỳ lời bài hát sến súa nào.

Tôi nhìn Duyên, cười toe toét - lần này tôi không sợ răng mình dính thóc nữa:

– Ngon. Cảm ơn bà.

Duyên cười tít mắt, rồi đội nón chạy theo xe lúa của bố.

Tôi đứng đó, cầm bông lúa trong tay, nhìn theo bóng dáng nhỏ bé khuất dần trong ráng chiều đỏ rực.

Ngày hôm đó, tôi không làm thêm bài thơ nào cả. Vì tôi nhận ra, chỉ cần đứng yên và ngắm nhìn, cuộc đời đã tự viết nên những vần thơ tuyệt diệu nhất rồi.

Và tôi biết, dù sau này có đi đâu, gặp bao nhiêu người con gái rực rỡ chốn phồn hoa, tôi cũng sẽ không bao giờ quên được ánh mắt biếc sau vành nón lá của một chiều thu đượm mùi rơm rạ ấy.

Ánh mắt đã đánh rơi vào lòng tôi một hạt mầm, để rồi từ đó, cây tình yêu bắt đầu lặng lẽ vươn cành, xanh tốt.

Bình Luận (0)

Vui lòng Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận...