Sau những tiếng cười giòn tan vỡ òa trong cơn mưa, bầu trời xóm Chùa lại trở về vẻ tĩnh lặng vốn có. Nhưng lần này, sự tĩnh lặng ấy mang một màu sắc khác. Không phải là sự bình yên của những buổi trưa hè, mà là sự im lìm báo hiệu một cuộc chia ly.
Người lớn thường bảo: "Trẻ con thì biết cái gì mà buồn". Nhưng họ đã nhầm. Trẻ con có cái ăng-ten cảm xúc nhạy bén vô cùng. Chúng tôi có thể ngửi thấy mùi của nỗi buồn ngay cả khi nó chưa kịp thành hình, lẩn khuất trong tiếng thở dài của mẹ hay trong làn khói thuốc trầm ngâm của bố.
Sáng hôm ấy, tôi sang rủ thằng Tí đi đào dế. Thông thường, chỉ cần nghe thấy tiếng chân tôi lẹp xẹp ngoài ngõ, nó đã tót ra ngay. Nhưng hôm nay, nhà nó im ắng lạ thường.
Con Mực nằm dài trước hiên nhà, mặt buồn thiu, thấy tôi vào cũng chẳng buồn vẫy đuôi, chỉ khẽ "ư ử" trong họng.
Tôi bước vào sân. Cửa chính mở toang. Giữa nhà, một chiếc ba lô vải bạt màu rằn ri cũ kỹ nằm chễm chệ trên bộ bàn ghế gỗ. Chiếc ba lô căng phồng, bên cạnh là một chiếc mũ cối sờn mép và một đôi giày bata đã buộc dây gọn gàng.
Không khí trong nhà đặc quánh, nặng trịch như sắp có dông bão, dù ngoài trời nắng vẫn vàng ươm.
Thằng Tí ngồi thu lu ở bậc thềm giếng nước sau nhà. Nó không mặc quần đùi áo ba lỗ như mọi khi, mà mặc bộ quần áo tươm tất nhất - cái áo có cổ đàng hoàng, mặt mày sạch sẽ, tóc chải ngôi lệch - chắc mẹ nó chải cho.
- Tí... - Tôi gọi khẽ.
Nó ngẩng lên. Đôi mắt nó đỏ hoe. Cái miệng sún răng mọi khi hay cười toe toét giờ mím chặt lại, méo xệch đi một cách tội nghiệp.
- Tao không đi đào dế đâu. - Nó nói, giọng khàn khàn.
- Sao vậy?
- Bố tao... sắp đi rồi.
Tôi giật mình. Đi? Đi đâu? Ở cái xóm Chùa này, "đi" là một từ đáng sợ. Người ta đi chợ, đi làm đồng thì tối về. Nhưng cái kiểu "đi" mà phải xếp ba lô, mà mắt mẹ thằng Tí sưng húp thế kia, thì chắc chắn là đi xa lắm.
- Bố đi Kinh tế mới. - Tí nói, tay di di ngón chân cái xuống nền gạch rêu. - Bố bảo ở nhà làm ruộng đói quá, không đủ tiền nuôi tao ăn học, không đủ tiền sửa cái mái nhà dột. Bố phải vào miền Nam làm phụ hồ, hay làm rẫy gì đó.
Tôi ngồi xuống bên cạnh nó, im lặng. Mười một tuổi, tôi lờ mờ hiểu được cái gọi là "gánh nặng cơm áo" qua những bữa cơm thiếu thức ăn, nhưng chưa bao giờ tôi thấy nó hiện hình rõ rệt và tàn nhẫn như lúc này: Nó cướp mất bố của thằng bạn thân nhất của tôi.
- Bao lâu bố về? - Tôi hỏi một câu ngu ngốc.
- Bố bảo Tết bố về. - Tí sụt sịt. - Nhưng tao nghe mẹ nói với bà nội, có khi phải vài năm. Vé tàu xe đắt lắm.
Lát sau, bố thằng Tí từ trong buồng bước ra. Người đàn ông gầy gò, da đen sạm vì nắng gió, đôi bàn tay to bè chai sần. Ông khoác cái ba lô lên vai, đội chiếc mũ cối lên đầu. Mẹ Tí đi theo sau, tay cầm cái nón lá che nghiêng mặt, vai rung lên từng đợt.
- Thôi, tôi đi nhé. Ở nhà ráng lo cho con. - Bố Tí nói, giọng ồm ồm nhưng nghe nhưng nghẹn lại.
Ông quay sang nhìn thằng Tí.
- Tí! Lại đây bố bảo.
Thằng Tí đứng dậy, đi chậm chạp về phía bố. Nó cúi gằm mặt, không dám nhìn lên.
Bố nó đặt bàn tay thô ráp lên vai nó, bóp nhẹ:
- Bố đi kiếm tiền mua xe đạp cho con. Ở nhà phải ngoan, nghe lời mẹ, không được trèo cây nghịch dại nữa nghe chưa? Con là đàn ông trong nhà rồi đấy.
Thằng Tí gật đầu lia lịa, nước mắt bắt đầu tuôn rơi lã chã xuống mũi giày.
- Dạ... bố đi... bố nhớ về sớm... con không cần xe đạp đâu... con đi bộ cũng được...
Câu nói của nó vỡ òa ra thành tiếng khóc nức nở. Bố nó khựng lại một chút, mắt ông cũng đỏ lên. Ông cúi xuống, ôm chầm lấy thằng con trai bé bỏng vào lòng lần cuối, cái ôm vội vã, sực mùi mồ hôi và mùi thuốc lá rẻ tiền.
Rồi ông quay lưng, bước nhanh ra cổng, dứt khoát như sợ nếu ngoảnh lại sẽ không đi nổi nữa.
Mẹ Tí òa khóc thành tiếng. Con Mực chồm dậy, chạy theo ông chủ ra đến tận ngõ, sủa váng lên những tiếng buồn thảm thiết.
Thằng Tí lao ra cổng. Tôi cũng chạy theo.
Chiếc xe ôm của bác Ba Chở Lợn đã đợi sẵn đầu ngõ. Bố Tí leo lên xe. Chiếc xe nổ máy phành phạch , nhả ra một làn khói trắng xóa.
- Bố ơi!!!
Thằng Tí hét lên, chạy đuổi theo chiếc xe. Cái dáng người tròn vo của nó lao đi trong bụi đường mịt mù. Nó chạy, vừa chạy vừa vẫy tay loạn xạ.
Nhưng chiếc xe cứ xa dần, xa dần, rồi khuất sau lũy tre làng. Chỉ còn lại bụi đỏ cuốn lên mù mịt, che lấp cả bóng dáng người cha.
Tí đứng lại giữa đường, thở hồng hộc, mặt mũi tèm lem nước mắt và bụi đất. Nó nhìn trân trân vào khoảng không vô định nơi chiếc xe vừa biến mất.
Tôi đi tới, đặt tay lên vai nó, chẳng biết nói gì. Lúc này, mọi lời an ủi đều trở nên sáo rỗng.
Tiểu Mai và Duyên cũng vừa chạy tới. Có lẽ tụi nó đã đứng nấp ở đâu đó nãy giờ. Tiểu Mai bước lại gần, chìa cho thằng Tí chiếc khăn tay thêu hoa của nó.
- Cậu lau đi... - Mai nói nhỏ.
Tí gạt phắt tay đi, quay mặt chỗ khác, quệt ngang nước mắt bằng ống tay áo:
- Tao không sao! Bụi bay vào mắt thôi!
Nó nói dối tệ hại. Nhưng chúng tôi đều tôn trọng lời nói dối ấy. Bởi vì bố nó vừa bảo nó là "đàn ông trong nhà". Mà đàn ông thì không được khóc trước mặt con gái, nhất là trước mặt "phe tóc bím".
Chiều hôm đó, nhóm "Xí Muội" vẫn tụ tập dưới gốc cây bàng vuông, nhưng không ai buồn chơi trò gì.
Tí ngồi dựa lưng vào gốc cây, mắt nhìn xa xăm về phía con đường đất đỏ dẫn ra thị trấn. Trên tay nó cầm một món đồ mà bố nó lén dúi vào tay lúc nãy: Một chiếc bật lửa Zippo cũ hết xăng mà bố nó quý nhất.
Nó cứ bật nắp lên tách , rồi đóng lại cạch . Tách... cạch... Tách... cạch...
Âm thanh khô khốc, đều đều ấy vang lên trong buổi chiều tà, nghe cô đơn đến rợn người.
Tôi nhìn thằng Tí, thấy nó bỗng nhiên già đi cả chục tuổi. Mới hôm qua nó còn là thuyền trưởng tàu chuối vô tư lự, hôm nay nó đã mang trên vai nỗi buồn của sự chia ly.
Tôi chợt nhận ra, tuổi thơ không kết thúc vào ngày ta mười tám tuổi. Tuổi thơ bắt đầu rạn vỡ vào cái ngày ta nhận ra rằng bố mẹ không phải là những người khổng lồ bất tử, và ngôi nhà ta đang ở không phải là pháo đài vĩnh cửu ngăn được gió bão cuộc đời.
Bố thằng Tí đi xa, mang theo một mảnh hồn nhiên của xóm Chùa. Và mùa hè năm ấy, nắng dường như bớt vàng đi một chút.
Có những bài học ở trường thầy cô không dạy, mà cuộc đời tự dạy ta bằng những khoảnh khắc tĩnh lặng đến nghẹt thở. Bài học về nước mắt của người lớn là một trong số đó. Chúng ta thường nghĩ người lớn là những ngọn núi vững chãi, chắn gió che mưa. Nhưng đêm hôm ấy, tôi phát hiện ra rằng, núi cũng biết khóc, và núi cũng biết đau.
Đêm hôm đó, xóm Chùa tối om và yên tĩnh đến rợn người.
Thường thì giờ này, tiếng dế, tiếng ễnh ương sẽ kêu râm ran như một dàn nhạc giao hưởng đồng quê. Nhưng đêm nay, dường như cả thiên nhiên cũng nín thở để chia sẻ nỗi buồn với ngôi nhà cuối ngõ.
Tôi nằm trên giường, trằn trọc mãi không ngủ được. Hình ảnh thằng Tí đứng giữa bụi đường mù mịt ban chiều cứ lởn vởn trong đầu tôi. Tôi lo cho nó. Thằng Tí sợ ma, mà tối nay bố nó không có nhà.
Đến khoảng chín giờ tối, tôi lén dậy, cầm cái đèn pin cũ - loại phải vỗ bồm bộp mới sáng, rón rén chuồn ra khỏi nhà. Mẹ tôi tưởng tôi đi vệ sinh nên chỉ nhắc với theo: "Cẩn thận rắn rết nghe con".
Tôi băng qua hàng rào dâm bụt, tiến về phía nhà thằng Tí.
Ngôi nhà tranh vách đất của nó chìm trong bóng tối, chỉ có một ánh đèn dầu vàng vọt hắt ra từ khe cửa sổ khép hờ. Tôi định cất tiếng gọi "Tí ơi" theo thói quen, nhưng một thứ gì đó đã chặn ngang cổ họng tôi lại.
Tôi ghé mắt nhìn qua khe cửa.
Bên trong, trên cái chõng tre ọp ẹp, thằng Tí nằm quay mặt vào vách. Nó nằm im thi thít, tấm chăn cũ đắp ngang bụng. Có lẽ nó đã ngủ, hoặc cố ép mình phải ngủ.
Nhưng điều khiến tôi sững sờ không phải là thằng Tí, mà là mẹ nó.
Mẹ Tí - bác Ba - đang ngồi bên cạnh ngọn đèn dầu đặt trên cái tráp gỗ. Bóng bác đổ dài trên vách đất loang lổ, to lớn và xiêu vẹo.
Trên tay bác đang cầm chiếc áo lao động cũ của bố Tí - chiếc áo bạc màu sực mùi mồ hôi và thuốc lá mà bác chưa kịp giặt.
Bác Ba không khóc thành tiếng.
Nếu như lúc sáng, bác gào lên nức nở tiễn chồng, thì bây giờ, bác ngồi im như một pho tượng. Nhưng đôi vai gầy guộc của bác cứ rung lên bần bật từng hồi. Dưới ánh đèn leo lét, tôi thấy những giọt nước mắt lặng lẽ lăn dài trên gò má hốc hác, rơi xuống chiếc áo cũ đang nằm trong lòng bác.
Bác đưa tay lên bịt chặt miệng mình lại, dường như sợ tiếng nấc sẽ thoát ra ngoài đánh thức thằng Tí.
Đó là lần đầu tiên trong đời, tôi - một thằng nhóc mười một tuổi - chứng kiến một người lớn khóc trong bóng tối.
Trước đây, tôi cứ nghĩ khóc là đặc quyền của trẻ con. Tụi tôi khóc khi bị đánh đòn, khi bị đói, hay khi đòi mua đồ chơi. Tiếng khóc của trẻ con ồn ào, dữ dội, cốt để cho cả thế giới biết rằng "tôi đang đau khổ đây, hãy dỗ dành tôi đi". Khóc xong là quên, là cười ngay được.
Nhưng tiếng khóc của người lớn sao mà khác quá.
Nó câm lặng. Nó kìm nén. Nó không muốn ai nhìn thấy, không muốn ai dỗ dành. Nó là thứ nước mắt chảy ngược vào trong, mặn chát và đau đớn gấp ngàn lần. Bác Ba khóc không phải vì nhõng nhẽo, mà vì nỗi lo cơm áo gạo tiền, vì sự cô đơn của người phụ nữ phải gồng gánh cả gia đình khi chồng đi xa.
Tôi đứng chôn chân ngoài cửa sổ, tay siết chặt cái đèn pin lạnh ngắt. Tự nhiên tôi thấy mình nhỏ bé và vô dụng kinh khủng. Tôi muốn chạy vào an ủi bác, nhưng tôi biết mình không được phép. Đó là nỗi đau riêng tư của người lớn mà một đứa trẻ không nên xâm phạm.
Bất chợt, tôi thấy thằng Tí cựa mình.
Nó vẫn nằm quay lưng lại phía mẹ, nhưng tôi thấy bàn tay nhỏ xíu của nó đang nắm chặt lấy mép chiếu, chặt đến mức các ngón tay trắng bệch ra.
Hóa ra nó chưa ngủ.
Nó biết mẹ nó đang khóc. Nó nghe thấy tiếng nấc nghẹn ngào cố kìm nén kia. Nhưng nó không quay lại, không ngồi dậy ôm mẹ. Nó cứ nằm im như thế, giả vờ ngủ say.
Tại sao?
Lúc ấy tôi không hiểu, nhưng sau này tôi mới biết: Đó là cách một đứa con trai mười tuổi thể hiện sự trưởng thành. Nó sợ nếu nó quay lại, mẹ nó sẽ càng xấu hổ, càng đau lòng hơn. Nó để cho mẹ nó được yếu đuối trong giây lát, còn nó nhận phần việc khó khăn hơn: Làm chỗ dựa tinh thần vững chãi trong im lặng.
Hai mẹ con, một người ngồi khóc thầm, một người nằm giả vờ ngủ, trong một căn nhà trống huơ trống hoác. Khoảng cách giữa họ chỉ là một khoảng nhỏ, nhưng nỗi buồn thì mênh mông như cả cánh đồng mùa lũ.
Tôi lặng lẽ tắt đèn pin, lùi lại và quay đầu chạy về nhà.
Tôi chui vào chăn, nằm cạnh bố mẹ tôi đang ngủ say. Nghe tiếng ngáy đều đều của bố, tự nhiên tôi thấy sống mũi cay xè. Tôi hít hà cái mùi quen thuộc. Lần đầu tiên tôi thấy sợ. Sợ một ngày nào đó bố tôi cũng đi xa, mẹ tôi cũng ngồi khóc một mình bên ngọn đèn dầu như thế.
Đêm đó, giấc mơ của tôi không còn những cánh diều hay những con tàu chuối. Giấc mơ của tôi chập chờn bóng dáng xiêu vẹo của người mẹ in trên vách đất, nhắc nhở tôi rằng bầu trời tuổi thơ trong trẻo của chúng tôi đã bắt đầu có những đám mây đen của cuộc đời người lớn kéo đến.
Và tôi hiểu, mùa hè này, chúng tôi đã thực sự lớn rồi. Không phải lớn vì cao thêm vài phân, mà lớn vì đã biết đau lòng khi nhìn thấy nước mắt.
Chúng ta đã đi cùng nhau qua những ngày nắng lửa, những cơn mưa rào và cả những giọt nước mắt thầm lặng. Mọi bữa tiệc rồi cũng đến lúc tàn, mọi mùa hè dù rực rỡ đến đâu cũng phải nhường chỗ cho tiếng trống trường và những chiếc lá thu vàng vọt.
Tháng Tám về, mang theo những cơn gió heo may se lạnh lùa qua những kẽ lá.
Tiếng ve sầu trên vòm cây phượng vĩ đã bắt đầu khản giọng, thưa thớt dần rồi tắt hẳn. Những cánh phượng cuối cùng rụng xuống mặt đường đất đỏ, nằm im lìm như xác pháo của một cuộc vui đã tàn.
Mùa hè năm ấy dường như dài hơn mọi năm.
Nó dài không phải vì trái đất quay chậm lại, mà vì sự chờ đợi và chia ly đã kéo giãn thời gian ra thành những vệt dài vô tận trong tâm trí lũ trẻ chúng tôi.
Thằng Tí sún không còn sún nữa. Hai chiếc răng cửa vĩnh viễn của nó đã bắt đầu nhú lên, trắng bóng và to bản, lấp đầy khoảng trống ngộ nghĩnh trên nụ cười của nó. Nhưng lạ thay, khi răng mọc lại, Tí lại ít cười hơn. Nó hay ngồi thẫn thờ ở bậc thềm, tay mân mê chiếc bật lửa cũ của bố, mắt ngóng về phương Nam xa xôi. Nó đợi một lá thư, hay một tin nhắn nào đó, nhưng chỉ có tiếng lá khô xào xạc đáp lời.
Còn tôi và Duyên thì mang một nỗi buồn khác: Nỗi buồn mang tên "Tiểu Mai".
Ngày Tiểu Mai phải trở về thành phố để chuẩn bị vào năm học mới đã được định trước. Chiếc xe hơi màu xanh dương bóng lộn lại xuất hiện trước cổng nhà bà Ba, nhưng lần này không phải để đưa đến một "món quà", mà là để lấy đi một mảnh linh hồn của nhóm "Xí Muội".
Buổi chiều cuối cùng, bốn đứa chúng tôi ra ngồi ở bờ sông.
Không ai nói gì nhiều. Không có trò chơi nào được bày ra. Không ném đá, không tắm sông, không bắt chuồn chuồn. Chúng tôi chỉ ngồi đó, ngắm nhìn dòng sông Ngàn lững lờ trôi, mang theo những đám lục bình tím biếc về phía chân trời.
- Mai về nhớ viết thư nhé. - Duyên phá vỡ sự im lặng, giọng nó méo xẹo.
- Ừ, tớ sẽ viết. Tuần nào cũng viết. - Tiểu Mai gật đầu. Nó không còn là cô tiểu thư váy đầm bồng bềnh ngày đầu mới đến. Nó mặc cái áo thun cũ in hình chuột Mickey đã phai màu, da nó đã rám nắng, và trên đầu gối còn nguyên vết sẹo mờ do lần ngã xe đạp tập đi với thằng Tí.
Tiểu Mai quay sang thằng Tí:
- Tí này...
- Gì? - Tí vẫn nhìn xuống mặt nước.
- Cậu... cười lên một cái đi. - Mai năn nỉ. - Tớ muốn nhớ nụ cười của cậu.
Tí quay sang nhìn Mai. Nó cố gắng nhếch mép cười, để lộ hai cái răng cửa mới nhú. Nụ cười gượng gạo, buồn thiu, nhưng chứa đựng tất cả sự lưu luyến của một thằng con trai mới lớn.
Tiểu Mai thò tay vào túi áo, lấy ra một vật. Đó là một chiếc nơ kẹp tóc màu hồng - thứ mà nó quý nhất, lúc nào cũng cài trên đầu búp bê.
- Tớ... tớ tặng cái này cho... cho nhóm mình. Để trong cái hộp bí mật ấy.
Chúng tôi lặng người. Chiếc nơ hồng nằm trong lòng bàn tay chai sạn của thằng Tí, nhỏ bé và mỏng manh như cánh bướm.
Sáng hôm sau, Tiểu Mai đi.
Chúng tôi không chạy theo xe như hồi bố Tí đi. Chúng tôi đứng thành hàng ngang trước cổng, vẫy tay chào.
Tiểu Mai hạ kính xe xuống. Nó thò đầu ra, vẫy tay lại loạn xạ. Tôi thấy mắt nó đỏ hoe.
- Tạm biệt! Nhớ đợi tớ nhé! Mùa hè sau tớ lại về!
Chiếc xe lăn bánh, cuốn theo bụi đường, nhỏ dần rồi mất hút sau rặng tre.
Xóm Chùa trở lại vẻ yên tĩnh vốn có. Nhưng với chúng tôi, sự yên tĩnh này sao mà trống trải, lạnh lẽo đến thế. Thiếu tiếng léo nhéo của Tiểu Mai, thiếu những câu hỏi ngây ngô về "con bò sữa", thiếu cái dáng điệu đà giữa đám cỏ dại... nhóm "Xí Muội" như mất đi một chân kiềng.
Tôi quay sang thằng Tí.
- Hết hè rồi mày ạ.
Tí gật đầu, đá một hòn sỏi văng vào bụi cây:
- Ừ. Hết thật rồi. Mai đi học rồi.
Chúng tôi lững thững đi bộ về nhà. Con đường quen thuộc bỗng trở nên xa lạ. Những trò nghịch ngợm ngày hôm qua - trộm xoài, thả diều, bè chuối - bỗng chốc trở thành những thước phim quay chậm của một thời quá vãng.
Tôi nhìn lên bầu trời. Trời đã cao hơn và xanh thẫm lại. Những đám mây trắng xốp của mùa hạ đã tan biến, nhường chỗ cho những vệt mây mỏng mảnh như tơ trời.
Mùa hè này dài hơn mọi năm, bởi vì đó là mùa hè cuối cùng chúng tôi được làm trẻ con một cách trọn vẹn.
Chúng tôi đã bước vào mùa hè với những cái đầu trần và đôi chân đất vô tư lự, nhưng chúng tôi bước ra khỏi nó với những vết xước trong tim: Vết xước của sự chia ly, vết xước của nỗi nhớ mong, và vết xước của sự trưởng thành.
"Quán tạp hóa bán những mùa hè" đã đóng cửa, cất kỹ những món hàng ký ức vào trong chiếc hộp sắt gỉ dưới gốc cây bàng. Để rồi ngày mai, khi tiếng trống trường vang lên, chúng tôi sẽ khoác lên mình chiếc áo trắng tinh khôi, bước vào một thế giới khác - thế giới của những rung động đầu đời, nơi ánh mắt ai đó sẽ làm tim ta lỡ nhịp còn mạnh hơn cả khi bị thầy giáo gọi lên bảng.
Tạm biệt nhé, tuổi thơ dữ dội.
Chaporia
Bình Luận (0)