Sau trận mưa tưởng tượng trong lời kể của mẹ, con sông ngoài đời trước mắt tôi cũng đen thẫm như mực.
Gốc hòe bên bờ sông vẫn còn đó.
Thân cây già cỗi, cành lá rậm rạp, rễ cây bò ngoằn ngoèo trên mặt đất như từng ngón tay khô gầy.
Ông Lưu nói:
“Đêm Kiến Quốc xảy ra chuyện, chỗ này chính là nơi tìm thấy dấu kéo lê.”
“Nhưng lúc đó mưa lớn, dấu vết rất nhanh đã bị nước xóa mất.”
Ông Trần M/ù bảo người đào dưới gốc hòe.
Đào được một lúc, lưỡi cuốc chạm phải một ống tre.
Bên trong ống tre được bịt sáp.
Mở ra, trong đó có một cuộn băng ghi âm cũ và một chiếc chìa khóa nhỏ.
Tôi sửng sốt.
“Băng ghi âm?”
Ông Lưu run giọng:
“Kiến Quốc trước kia từng mua một cái máy ghi âm cũ để học tiếng phổ thông.”
“Nó hay để trong túi áo.”
Mẹ tôi nhìn cuộn băng, cả người run lên như chiếc lá.
“Không…”
“Không thể…”
“Tối đó rõ ràng tao đã tìm khắp người ông ta…”
Ông Trần M/ù lạnh lùng nói:
“Có lẽ bố con bé biết cô sẽ tìm.”
“Cho nên trước khi về nhà, ông ấy đã giấu một phần ở đây.”
Chiếc chìa khóa kia mở một chiếc hòm cũ trong nhà kho.
Chúng tôi quay về, tìm được chiếc hòm theo lời ông Lưu.
Trong hòm có máy ghi âm.
Đã cũ nhưng vẫn còn dùng được sau khi thay pin từ nhà hàng xóm.
Khi băng bắt đầu chạy, âm thanh rè rè vang lên.
Sau đó là giọng bố tôi.
Rất trẻ.
Rất mệt.
Nhưng vô cùng rõ ràng.
“Thúy Lâm, chúng ta ly hôn đi.”
Giọng mẹ tôi vang lên ngay sau đó.
“Ly hôn? Anh muốn bỏ tôi?”
Bố tôi nói:
“Tôi không bỏ cô.”
“Là cô không chịu sống tử tế.”
“Cô đ/ánh con, lấy tiền của mẹ tôi, còn đuổi bà ấy ra khỏi nhà giữa đêm.”
“Tôi đã nhịn quá nhiều lần rồi.”
Mẹ tôi cười lạnh trong băng.
“Anh muốn đưa con bé đi?”
“Đúng.”
“Con bé đi theo cô sẽ bị hủy mất.”
Sau đó là tiếng đồ vật rơi vỡ.
Tiếng cãi vã.
Tiếng mẹ tôi gào lên.
“Không ai được bỏ tôi!”
“Anh cũng không được!”
Rồi một tiếng va chạm rất mạnh.
Băng ghi âm im lặng vài giây.
Sau đó là tiếng thở yếu ớt của bố tôi.
“Thúy Lâm…”
“Gọi người…”
Mẹ tôi không nói.
Chỉ có tiếng thở dốc.
Bố tôi lại nói:
“Đừng hại Tiểu Nguyệt…”
“Đừng hại mẹ…”
Sau đó, trong băng vang lên tiếng kéo lê.
Tiếng mưa.
Tiếng mẹ tôi khóc giả.
“Kiến Quốc, anh đừng trách tôi…”
“Anh ép tôi…”
Băng chạy đến đây thì dừng.
Tất cả mọi người trong sân đều im lặng.
Không ai nói nổi một câu.
Chứng cứ đã rõ.
Không còn là lời kể.
Không còn là oán hồn.
Là giọng nói của người ch/ết, vượt qua nhiều năm tháng, cuối cùng tự mình trở về.
Mẹ tôi quỳ trên đất, mắt nhìn chằm chằm máy ghi âm.
Bà bỗng cười.
Cười đến nước mắt chảy ra.
“Ông ta đúng là yêu con bé.”
“Đến ch/ết cũng còn tính đường cho nó.”
Bà quay sang nhìn tôi.
Ánh mắt vừa hận vừa ghen.
“Mày dựa vào cái gì?”
“Từ nhỏ đến lớn, ai cũng thương mày.”
“Bố mày thương mày.”
“Bà già kia thương mày.”
“Ngay cả bây giờ, cả làng cũng đứng về phía mày.”
“Còn tao thì sao?”
“Ai từng thương tao?”
Tôi nhìn bà rất lâu.
Có lẽ mẹ tôi cũng từng có nỗi khổ.
Có lẽ bà cũng từng bị người đời xem thường.
Có lẽ bà thật sự từng muốn có một mái nhà.
Nhưng tất cả những điều đó không thể trở thành lý do để bà hủy hoại người khác.
Tôi thấp giọng nói:
“Người không được yêu thương, không có nghĩa được quyền hại người yêu thương mình.”
Mẹ tôi ngẩn ra.
Rồi ánh mắt bà bỗng trở nên trống rỗng.
Bên ngoài cổng vang lên tiếng bước chân.
Ông Lưu đã nhờ người gọi công an xã từ lúc phát hiện hộp sắt.
Lúc này, họ vừa đến.
Mẹ tôi bị đưa đi.
Khi đi ngang qua tôi, bà bỗng dừng lại.
“Tiểu Nguyệt.”
Đây là lần đầu tiên sau nhiều năm, bà gọi tên ở nhà của tôi.
Tôi nhìn bà.
Bà há miệng, như muốn nói gì đó.
Nhưng cuối cùng chỉ cười lạnh.
“Mày thắng rồi.”
Tôi lắc đầu.
“Không ai thắng cả.”
“Bố ch/ết rồi.”
“Bà nội cũng ch/ết rồi.”
“Con mất tất cả từ rất lâu trước khi biết sự thật.”
Mẹ tôi bị dẫn ra ngoài.
Bóng bà khuất sau cánh cổng.
Tôi đứng giữa sân, ôm lá thư của bố và chiếc hộp gỗ của bà nội.
Gió đêm thổi qua, bảy ngọn đèn dầu trong gian chính bỗng đồng loạt sáng lên.
Không còn màu xanh âm u.
Mà là ánh vàng ấm áp.
Ông Trần M/ù nhìn vào trong nhà, nhẹ giọng nói:
“Họ đến tiễn cháu.”
Tôi ngẩng đầu.
Trong làn khói hương mỏng, tôi như thấy hai bóng người đứng trước cửa gian chính.
Một người đàn ông trẻ mặc áo sơ mi cũ.
Một bà cụ tóc bạc lưng còng.
Bà nội nắm tay bố tôi.
Bố tôi nhìn tôi, ánh mắt dịu dàng.
Tôi nghẹn ngào gọi:
“Bố…”
“Bà…”
Gió khẽ thổi qua.
Chiếc chuông đồng trong tay ông Trần M/ù tự vang lên một tiếng.
Keng.
Hai bóng người dần tan vào ánh đèn.
Trước khi biến mất, tôi nghe thấy giọng bố.
“Tiểu Nguyệt.”
“Sống tiếp đi.”
Tôi bật khóc.
Khóc đến mức không đứng vững.
Những năm tháng bị che giấu.
Những lời nói dối đè nặng lên đời tôi.
Những cái ch/ết không được nói ra.
Cuối cùng, trong đêm ấy, đều có được một câu trả lời.
Nhưng câu trả lời đến quá muộn.
Muộn đến mức người cần nghe nhất đã không còn nữa.
Sáng hôm sau, tin mẹ tôi bị bắt lan khắp làng.
Không ai còn dám nhắc đến bà nội bằng giọng khinh miệt.
Người ta sửa lại mộ cho bà.
Dựng bia tử tế.
Trên bia khắc rõ tên bà.
Lý Ngọc Lan.
Không phải bà cụ không biết xấu hổ.
Không phải người đàn bà ngoại tình trong lời đồn.
Mà là Lý Ngọc Lan.
Một người mẹ từng mất con.
Một người bà từng dùng chút sức tàn cuối cùng để bảo vệ cháu gái.
Một người phụ nữ bị lời đồn và lòng tham gi/ết ch/ết.
Ông Lưu đặt trước m/ộ bà một bó hoa dại.
Ông đứng rất lâu.
Cuối cùng chỉ nói một câu:
“Xin lỗi.”
Tôi đứng bên cạnh, không nói gì.
Có những lời xin lỗi quá muộn.
Nhưng dù muộn, vẫn phải nói.
Bởi người ch/ết có thể không quay lại.
Nhưng sự thật thì phải được trả về đúng chỗ của nó.
Mấy ngày sau, xã cử người xuống điều tra lại toàn bộ vụ việc.
Băng ghi âm của bố, thư của bà nội, lời khai của dân làng, tất cả đều được ghi lại.
Mẹ tôi ban đầu còn chối quanh.
Nhưng sau đó, khi người ta đưa máy ghi âm ra, bà im lặng rất lâu.
Cuối cùng, bà chỉ hỏi:
“Con bé có đến không?”
Tôi không đến.
Không phải vì hận.
Mà vì tôi biết, bà muốn nhìn thấy tôi để tiếp tục dùng tình thân trói buộc tôi.
Tôi đã bị trói quá lâu rồi.
Lần này, tôi muốn tự mình bước ra.
Ngày rời khỏi làng, ông Trần M/ù tiễn tôi ra đầu đường.
Chaporia
Bình Luận (0)