Ông đưa cho tôi chiếc chuông đồng cũ.
“Giữ lấy.”
Tôi vội lắc đầu.
“Cháu không thể nhận.”
Ông cười nhẹ.
“Ta già rồi.”
“Thứ này theo ta nhiều năm, cũng nên đổi người giữ.”
Tôi nhìn ông.
“Cháu không biết làm pháp sự.”
Ông nói:
“Không cần biết.”
“Chuông không chỉ dùng để trấn q/uỷ.”
“Cũng dùng để nhắc người sống.”
“Đừng để lời nói, lòng tham và sự im lặng biến thành dao.”
Tôi nhận lấy chuông.
Chuông đồng cũ lạnh trong lòng bàn tay.
Nhưng không còn khiến tôi sợ.
Ông Lưu cũng đến.
Ông đưa cho tôi một túi vải nhỏ.
Bên trong là chút tiền dân làng góp lại.
“Đây không phải bồi thường.”
“Chúng tôi biết bồi thường không nổi.”
“Chỉ là mong cháu sau này ra ngoài học hành, sống tốt hơn.”
Tôi không muốn nhận.
Nhưng ông Lưu nói:
“Nhận đi.”
“Không phải vì chúng tôi.”
“Mà vì bà cháu.”
Tôi cúi đầu.
Cuối cùng vẫn nhận.
Trước khi lên xe, tôi quay đầu nhìn ngôi làng lần cuối.
Núi xanh sau làng đứng im dưới nắng.
Con sông chảy lặng lẽ.
Miếu cổ đã được phong kín lại.
Giếng cổ sau miếu cũng bị lấp bằng đá mới, bên trên dán đầy bùa của ông Trần M/ù.
Mọi thứ dường như trở lại bình thường.
Nhưng tôi biết, có vài thứ không bao giờ trở lại như cũ.
Ví dụ như danh tiếng của bà nội.
Ví dụ như cái ch/ết của bố.
Ví dụ như tôi.
Tôi không còn là đứa trẻ chỉ biết cúi đầu nghe mẹ mắng nữa.
Tôi mang theo thư của bố, tên của bà, và chiếc chuông đồng cũ rời khỏi làng.
Xe chạy qua bờ sông.
Tôi bỗng thấy bên gốc hòe có hai bóng người đứng dưới nắng.
Một người đàn ông trẻ.
Một bà cụ tóc bạc.
Họ nhìn tôi.
Không vẫy tay.
Chỉ mỉm cười.
Tôi cũng mỉm cười với họ.
Rồi xe rẽ qua khúc cua.
Ngôi làng biến mất sau lưng.
Nhưng lần này, tôi không còn sợ nữa.
Bởi tôi biết.
Người thật lòng yêu tôi chưa bao giờ bỏ rơi tôi.
Họ chỉ đổi một cách khác.
Đưa tôi ra khỏi màn đêm.
9
Sau khi rời khỏi làng, tôi được một người họ hàng xa bên ngoại đón lên huyện ở tạm.
Nói là họ hàng, thật ra nhiều năm không qua lại.
Người đó là dì Tần.
Dì không thân với mẹ tôi, nhưng từng chịu ơn bố tôi khi còn trẻ. Nghe chuyện nhà tôi, dì im lặng rất lâu trong điện thoại, cuối cùng chỉ nói:
“Con đến đây đi.”
“Ít nhất ở chỗ dì, không ai dám t/át con.”
Câu ấy khiến tôi cầm điện thoại rất lâu không nói nên lời.
Từ nhỏ đến lớn, hình như tôi chưa từng được ai nói một câu đơn giản như vậy.
Không ai dám t/át con.
Đối với người khác, đó là chuyện đương nhiên.
Nhưng với tôi, lại giống như một lời hứa rất xa xỉ.
Ngày đầu tiên ở nhà dì Tần, tôi ngủ một giấc rất dài.
Không mơ thấy mẹ.
Không mơ thấy căn phòng tối của bà nội.
Cũng không mơ thấy bờ sông nơi bố ch/ết.
Tôi chỉ mơ thấy một buổi chiều nắng rất nhẹ.
Bà nội ngồi dưới mái hiên, chậm rãi khâu một chiếc vòng bạc vào túi vải nhỏ.
Bố tôi ngồi bên cạnh, cúi đầu sửa chiếc xe đạp cũ.
Tôi còn nhỏ, chạy quanh sân.
Bố ngẩng đầu gọi tôi:
“Tiểu Nguyệt, chạy chậm thôi, ngã bây giờ.”
Bà nội cười hiền:
“Không sao, ngã thì bà đỡ.”
Tôi tỉnh dậy, gối ướt một mảng.
Nhưng lần này, nước mắt không còn nghẹn đến đau.
Nó giống như thứ gì đó bị đè nén rất lâu, cuối cùng cũng có thể chảy ra.
Vụ án của mẹ tôi được xử rất nhanh.
Bằng chứng quá rõ.
Băng ghi âm của bố.
Lá thư của bố.
Những lá thư bà nội để lại.
Lời khai của ông Lưu, ông Trần M/ù và dân làng.
Cả việc mẹ tôi từng công khai nhận tội trước linh cữu bà nội cũng được nhiều người xác nhận.
Ban đầu mẹ tôi không chịu nhận.
Bà nói mọi thứ đều là mê tín.
Nói băng ghi âm là giả.
Nói thư là do tôi và ông Lưu thông đồng dựng lên để hại bà.
Nhưng khi cơ quan điều tra tìm lại hồ sơ năm xưa, rất nhiều điểm bất thường dần hiện ra.
Thi th/ể bố tôi khi đó có vết thương ở sau đầu.
Lúc ấy bị kết luận là va vào đá dưới sông.
Nhưng theo lời khai mới, vết thương ấy rất có thể đã có trước khi ông rơi xuống nước.
Chiếc áo sơ mi dính m/áu dưới đáy chum cũng được đưa đi giám định.
Dù đã qua nhiều năm, kết quả vẫn chỉ ra trên đó có dấu vết m/áu cũ và thuộc về nam giới trong cùng huyết thống với tôi.
Đó là bố tôi.
Khi kết quả được đưa ra, mẹ tôi im lặng.
Bà không gào.
Không khóc.
Không còn mắng tôi là đồ con hoang.
Chỉ ngồi thừ ra rất lâu.
Sau đó bà hỏi người thẩm vấn:
“Con bé có hỏi gì về tôi không?”
Không ai trả lời bà.
Bởi vì tôi thật sự không hỏi.
Từ ngày rời khỏi làng, tôi chỉ hỏi duy nhất ba chuyện.
Một là vụ án của bố có thể điều tra lại đến đâu.
Hai là bà nội có thể được ghi nhận là nạn nhân bị ngược đãi hay không.
Ba là tôi có thể đổi họ hay không.
Tôi không muốn mang họ của người mẹ ấy nữa.
Tôi muốn theo họ bố.
Tôi muốn tên mình được đặt cạnh bố và bà nội trên cùng một cuốn sổ hộ khẩu mới, sạch sẽ hơn, không còn dính đầy lời dối trá.
Dì Tần nghe xong thì lặng đi.
Rồi dì nói:
“Được.”
“Chúng ta từ từ làm.”
Phiên tòa diễn ra vào một ngày mưa nhỏ.
Tôi ngồi ở hàng ghế phía sau.
Mẹ tôi mặc áo tù, tóc cắt ngắn, gương mặt gầy đi rất nhiều.
Khi bị dẫn vào, bà đảo mắt tìm kiếm trong phòng.
Tìm thấy tôi, mắt bà sáng lên một chút.
Bà há miệng.
Có lẽ muốn gọi tôi.
Nhưng tôi đã cúi đầu xuống.
Tôi không muốn nghe bà gọi tôi là con.
Cũng không muốn nghe bà gọi tôi là Tiểu Nguyệt.
Hai chữ ấy từ miệng bố là yêu thương.
Từ miệng bà chỉ còn là dây trói.
Trong phiên tòa, mẹ tôi cuối cùng cũng kể lại mọi chuyện.
Kể rất bình tĩnh.
Bình tĩnh đến mức khiến người ta lạnh sống lưng.
Bà nói năm đó, khi bố tôi muốn ly hôn, bà cảm thấy mình bị phản bội.
Bà nói bà không muốn trở thành trò cười của cả làng.
Bà nói nếu bố tôi đưa tôi đi, bà sẽ chẳng còn gì.
Cho nên bà nhìn bố tôi yếu dần sau khi va đầu vào chum nước.
Rồi nhân lúc đêm mưa, kéo ông ra bờ sông.
Bà cũng thừa nhận đã lấy tiền trợ cấp của bà nội.
Thừa nhận tung tin đồn bà nội ngoại tình.
Thừa nhận chôn giấu thư tố cáo, vật tùy thân và chiếc vòng bạc.
Thừa nhận đã bỏ mặc bà nội trong tình trạng khô khát.
Khi công tố viên đọc lại những lời khai ấy, trong phòng xử án có người bật khóc.
Tôi thì không khóc.
Nước mắt của tôi đã rơi hết trong những đêm trước rồi.
Tôi chỉ nhìn mẹ tôi.
Nhìn người từng sinh ra tôi, cũng là người tự tay phá nát nhà của tôi.
Đến phần nói lời cuối, mẹ tôi quay sang nhìn tôi.
Lần này, tôi không né tránh.
Bà nhìn tôi rất lâu.
Chaporia
Bình Luận (0)