Vì Anh Hứa/Chapter 12: Văn Lang, Ca và MyChapter 12: Văn Lang, Ca và My
20px

- Đại Năng Toàn Thư. Là nguồn sức mạnh vô tận của tộc Vạn Thư.

- …..Tộc Vạn Thư này là ai thế ạ? – Thanh hỏi ngay.

Nguyễn Trãi thở dài, ông hít sâu sắp xếp câu chữ trong đầu, rồi cố hết sức để kể ngắn gọn:

- Trong khoảng thời gian từ khi loài người hình thành nền văn minh đến gần thời điểm hiện tại, gần như mỗi vùng lãnh thổ đều sở hữu một nhóm người có mối liên hệ đặc biệt với thiên giới. Ta gọi chúng là cận thiên nhân. Mỗi nhóm người đó sẽ sở hữu và khai thác sức mạnh từ các ngọn nguồn khác nhau. Trung Hoa có tộc Xi Vưu, cực thịnh võ kỹ và mạnh lên nhờ hấp thụ tinh khí vạn vật, tu thân dưỡng tính, nhiều kẻ mạnh đến mức sánh ngang thần sơ cấp, dân Trung Hoa xưa gọi những kẻ đó là tiên nhân, ma nhân hoặc đại phật gia. Nhật Bản có các thị tộc hậu duệ trực hệ của các vị thần thuộc thiên giới Shindo, thần thuật của đám đó thì muôn hình vạn trạng: Ninja, ma kiếm, ẩn sĩ, tu sĩ, thậm chí mấy đứa học sinh nhặt được thần vật, bốc bừa cũng ra mấy đứa biết thần thuật. Vùng Bắc Âu có tộc Asgardio lấy sức mạnh từ việc uống máu thần, trở nên cuồng sát, càng tắm máu trên chiến trường, càng điên cuồng thì càng mạnh mẽ, rất giỏi thuật gọi sấm và thay hình đổi dạng. Hy Lạp thì có tộc Olympius thông thái, phép tắc, mạnh lên nhờ thờ phượng thần thánh, giao tiếp với họ và học hỏi phép thuật từ thiên giới bên đó. Đức có tộc Kaivertz cực kỳ có thiên phú với khoa học kỹ thuật, dễ dàng tiếp thu và khám phá tri thức mới, năng lực phát minh vượt trội loài người. Nhiều lần chúng ta khốn đốn vì chúng tìm ra và tận dụng các mảnh vỡ thiên giới sót lại ở nhân giới, rồi đe dọa chúng ta bằng các cỗ máy khai thác chúng. Hoa Kỳ có tộc Chân nhãn, đọc trước vận mệnh và nếu tận dụng tốt tri thức của họ, còn có thể định hình tương lai. Không chiến đấu thiện nghệ nhưng sức sinh tồn hết sức ngoan cường. Va-ti-căng có lẽ không cần nói thêm. Tộc nào cũng hùng mạnh, nhưng tộc nào cũng thiếu ít nhất một điều kiện tiên quyết để vươn lên thống trị, không vì số ượng ít ỏi cũng vì tư tưởng quá nhất quán, thiếu cân bằng, hoặc đơn giản là không may mắn. Tất cả họ chịu số phận ẩn cư rồi tàn phai theo thời gian, hoặc trở thành công cụ trong bóng tối cho các bộ máy cai trị sử dụng vì mục đích riêng. Nói đến đây, hai đứa hiểu chứ?

Kim và Thanh nhìn nhau một lúc, rồi Kim nói:

- Nghĩa là thế giới từng có rất nhiều người hùng mạnh, nhưng những người này hoặc không thể lộ diện, hoặc bị chính phủ các nước che giấu và lợi dụng đến cùng ạ?

- Phải. – Nguyễn Trãi gật đầu – Sự hiện diện của họ ở bất cứ đâu cũng thúc đẩy sự hỗn loạn cực điểm, rồi chính họ phải tự tay dọn dẹp những mớ hỗn độn bằng cách xóa bỏ sự hiện diện ở mọi nơi, dù tự nguyện hay bị vua chúa ép buộc. Những thời kì chiến tranh đẫm máu nhất phần lớn xảy ra vì những kẻ này. Tam quốc, Chiến quốc, thời Bắc thuộc của ta, đặc biệt là hai cuộc Thế chiến. Dấu răng họ ở mọi nơi, từ những cuộc chiến tình báo trong bóng tối, diễn biến chiến trường, từng lời cáo buộc lẫn nhau trên bàn đàm phán, đến các sự kiện bản lề quyết định kết cục từng cuộc chiến, thậm chí là kết cục của những nền văn minh. Cận thiên nhân đã can thiệp, và can thiệp rất nhiều vào dòng chảy lịch sử.

- Vậy tộc Vạn Thư cũng vậy sao? – Thanh hỏi – Họ cũng can thiệp vào lịch sử nước ta?

- Tất nhiên. Nói không ngoa, không chỉ nước ta, dân tộc ấy ảnh hưởng lớn đến cục diện thế giới trong nhiều thời điểm. Nếu phải xếp hạng, Vạn Thư bét nhất nằm trong 10 tộc cận thiên nhân ảnh hưởng nhiều nhất tới lịch sử thế giới. Và tự hào thay, 90% các tác động của họ đem lại hòa bình và bình yên cho nước nhà và khu vực. Ta có thể vỗ ngực khẳng định, tộc Vạn Thư là những anh hùng sinh ra giữa rừng kẻ cướp.

- Vậy chuyện gì đã xảy ra? Sao những người Vạn Thư đó lại làm ra chuyện này? – Thanh hỏi tiếp.

- Ta không biết. Ta còn không biết đó là hành động đơn phương của Tô Ma Hứa và đồng đảng hay tâm nguyện chung của người Vạn Thư. Ta thiên về trường hợp thứ hai hơn. Mọi cuộc khởi nghĩa đều xuất phát từ ý chí tập thể, các ngài ấy hiểu điều này nhất. – Nguyễn Trãi chỉ vào ba anh em Nguyễn Huệ. – Vả lại, tộc Vạn Thư là một trường hợp rất dặc biệt. Nếu xét từ góc nhìn khách quan, họ là nạn nhân của phong trào cận thiên nhân tiêu biến, người ngoài có thể sẽ nghĩ họ là những anh hùng bị đối xử tàn tệ bởi quốc gia.

Nguyễn Trãi nghỉ một nhịp, đôi mắt ông lại nhìn xa xăm. Kim và Thanh nuốt nước bọt, cau mày nhìn ông. Uống một ngụm nước, ông nói tiếp:

- Sự can thiệp của cận thiên nhân lên dòng chảy lịch sử, dù nhỏ nhoi hay sâu sắc, đều đem lại những kết cục thảm khốc cho chính họ và những người khác. Nên như một lẽ dĩ nhiên, sự tồn tại của họ dần bị xóa bỏ. Có nơi bằng vũ lực, có nơi bằng những biện pháp nhẹ nhàng. Nhưng kết cục vẫn vậy, đến những năm 1970, dân số cận thiên nhân từ đỉnh điểm là gần trăm triệu người vào cuối thiên niên kỉ trước, tụt xuống còn vài vạn, rải rác khắp nơi và phần lớn không biết trong mình có sức mạnh. Với tiến độ này, vài chục năm nữa sẽ không còn cận thiên nhân nào nữa, kể cả tộc Vạn Thư. Nhưng khi cái kết ấy xảy đến với họ, đó sẽ là một cái kết đau đớn nhất….

Nguyễn Trãi nói đến đây giật giật khóe mắt, tay vuốt râu hơi run. Hít một hơi bình tâm lại, ngài vững vàng nói tiếp:

- Không một dân tộc nào nên chịu kết cục ấy, dù là những kẻ man rợ khát máu dân lành, nữa là một dân tộc liêm khiết và cao quý như Vạn Thư.

- …..Là sao ạ? Cháu không hiểu. – Kim nắm chặt tay Thanh, run rẩy hỏi, cô sợ phải nghe điều mình đang nghĩ.

Nhìn ra cửa sổ, Nguyễn Trãi từ tốn kể:

- Vạn Thư… là một dân tộc sinh ra từ những câu chuyện…

…………………………………………………….

Thế kỉ IV trước Công Nguyên, Văn Lang, thời Hùng Vương thứ V.

Trong căn nhà sàn giữa đêm đông trên sườn đồi phía bắc, gia đình 4 người nằm cạnh đống lửa, trùm chăn da sói tíu tít nói chuyện. Con gái út trong tay cha thủ thỉ:

- Cha ơi, sau này con có được làm trưởng làng không?

Người cha ngập ngừng một lúc rồi trả lời:

- Nếu con kể được thật nhiều chuyện hay, thì dễ thôi.

- Con có nhiều chuyện hay lắm: chuyện chàng học giả lạc vào động tiên này, chuyện cậu bé ba tuổi vùng lên đánh giặc này, chuyện thần trụ trời lấy công đoái tội này, còn cả…

- Con cũng có! – Đứa con trai nằm sau lưng cha cũng hào hứng nói – con đã nghĩ ra chuyện chàng thợ săn chằn tinh tốt bụng, chuyện tình anh đánh cá nghèo và nàng công chúa, chuyện thần núi và thần sông tranh nhau làm rể Hùng Vương, rồi cả…

- My đang nói mà! Sao chen lời My! – cô bé 6 tuổi hậm hực.

- Nhưng Ca cũng muốn làm trưởng làng! – cậu nhóc 8 tuổi đanh đá.

- Được rồi được rồi, các con kể lần lượt nhé. Anh Ca nhường em My nhé. – Mẹ phải hòa giải, trong khi cha cười khúc khích:

- Các con ta đều ngoan và giỏi kể chuyện. Dù ai được làm trưởng làng, ta cũng yên lòng. Thôi, khuya rồi, mình đi ngủ….

Cộp cộp cộp cộp!

- Cấp… thưa ngài… cấp báo, tộc Ngưng Nga tấn công chúng ta. Chúng… chúng có viện binh.

Một người mặc khố vạt dài, mặt bôi hai vệt tro dưới hõm mắt đứng trước cửa nhà sàn nói, vừa nói vừa thở hổn hển.

Trưởng làng lật tung chăn, bật dậy hỏi người chiến binh:

- Quân số thế nào?

- ….Ta không cự được, thưa ngài, là quân Trung Nguyên chi viện.

Trưởng làng nghe đến đây, dứt khoát gật đầu, ra hiệu cho anh lính đánh thức quân doanh, rồi quay ra dặn dò vợ con:

- Nàng đem các con chạy đi. Vào rừng Lục Dung trốn tạm, đợi chúng đi qua thì xuôi dòng Cam mà về phương nam, đến làng Tử Ly, nhờ lạc tướng Kim Phong báo tin cho đức vua, tộc Ngưng Nga làm phản rồi, chúng viện đến quân phương bắc đánh chiếm đất ta. Đi mau.

- Cha ơi, cha ơi, cha đi cùng chúng con! -  My kéo vạt khố cha, ánh lửa bên ngoài bắt đầu hắt vào những bóng người bóng cây ma mị và những tiếng reo quân ầm ầm. Trưởng làng không gỡ được bé My ra, ngài khuyên bảo thế nào cũng không được, bèn thẳng tay đuổi mắng đi. Mẹ cô bé nước mắt lưng tròng, ôm chặt bé bế chạy đi. Ca đang khóc lóc chạy theo mẹ thì bị cha giữ lại. Xoay con trai về đối diện mình, ông gạt bỏ vẻ hung tợn, âu yếm nói với cậu:

- Con trai, bảo vệ nương và muội, bảo vệ kho tàng truyện kể của chúng ta. Ta tin các con sẽ truyền lại được những câu chuyện Vạn Thư. Hãy truyền chúng đi thật xa, thật cao, thật sâu, cho Văn Lang ta có sự tích, có kì tích để dân ta tin vào mà phấn đấu. Một ngày kia, khi kể đủ nhiều, chuyện sẽ thành thật, và kì tích sẽ xuất hiện, dân ta sẽ không cần tranh đấu nữa, bình yên sẽ đến với mọi nhà và mọi làng. Giờ đi đi. Mà khoan, một điều cuối. Ta yêu con, con trai, nói thế với nương và My giúp ta.

Ta tin con biết việc phải làm. Ta yêu con. Giờ thì đi đi, đi mau đi.

Cậu bé Ca ôm cha khóc lần cuối rồi chạy khỏi nhà sàn đuổi theo mẹ. Trưởng làng cầm giáo và khiên, bước ra khỏi nhà sàn, nhảy xuống đường đất qua các bậc thang gỗ bằng chân trần. Bên phải ông, thanh niên trai tráng và binh sĩ nai nịt giáo mác cầm đuốc cả thảy 50 người, hàng ngũ chỉnh tề ở trục chính đường làng, hai dãy nhà sàn ven đường đằng sau họ, vững vàng như thành lũy. Bên trái ông, quân giáp đen chạy hầm hập xuống từ khoảnh rừng phía xa sườn đồi, giữa các cây cao. Chúng tràn xuống như con sóng triều nhuốm lửa đỏ, ít phải 200 người. Ông gầm lên tiếng thét xung trận, dẫn đầu 50 người lao vào bìa rừng trên cao, trong lòng chỉ có hình bóng vợ con.

Từng chiến sĩ ở đây đều thề: sẽ chỉ chết khi gia đình họ đã an toàn trốn đi.   

Khi lính tráng đánh trận cầm chân giặc, đàn bà và con trẻ chạy xuôi theo dòng sông Cam ở khoảnh rừng phía nam, phía sau ngôi làng. Họ chạy, chạy miết mải, lính lác đằng sau phi giáo bắn cung sát sạt, họ vẫn chạy. Đến khi trời sáng, trong 80 đàn bà và trẻ nhỏ chạy giặc, chỉ có 17 người sống sót ra khỏi khoảnh rừng.

- Oaaaaa…. Oaaaaaa, nương ơiiiii, My muốn nương cơ…..

- Suỵt… suỵt…. My ngoan, nương quay lại tìm cha mà, My đừng khóc nữa. My đi với huynh, thì nương mới yên tâm… hức… yên tâm tìm cha được. Tìm được rồi, nương sẽ về với chúng ta. Nhé?

- Thật… thật không?

- Thật mà. Mình đi thôi, đi làng Tử Ly, đợi nương đem cha về. Nhanh lên, không là bị bắt đấy.

- Vâng… Vâng ạ, hức!

Hai anh em nắm tay nhau chạy trên con đường đất ven sông, phía trước bìa rừng xuôi về làng Tử Ly. Những người lớn khác đã đi trước cả, không ai lo cho hai đứa nhỏ. Chúng cắm đầu chạy. Không khóc, không nhìn lại, My chạy để đợi cha mẹ tới đón, Ca chạy để bảo vệ Mi.

Sau bìa rừng chỉ dăm chục thước, có xác một người đàn bà nằm sấp, quần áo rách rưới kẹp giữa xác hai tên giặc, tay trái bà chưa buông cành cây nhọn đâm vào cỏ tên bên dưới, tay phải bà vắt qua bụng, úp sấp buông thõng, ngay sát bàn tay là cán con dao ngà đâm lút vào bụng tên giặc nằm trên, trong khi lưng bà cũng thủng toác một lỗ từ con dao trong tay hắn. Bà chết không nhắm mắt. Chúng muốn bắt con bà, bà quyên sinh với chúng, dù biết sẽ chẳng bao giờ được gặp lại con.

Trong 63 người Vạn Thư chết dưới tay liên quân Chu – Ngưng Nga, vợ trưởng làng hy sinh anh dũng khi chiến đấu với hai kẻ hung hãn, mở đường cho hai con trốn thoát.

Nhiều năm sau, khi sự bành trướng và đàn áp của nhà Chu của Trung Nguyên lên Văn Lang ngày càng khó cự, muôn dân lầm than, có cặp nam nữ nọ đi khắp nơi kể chuyện. Họ là những kẻ mua vui, chuyện họ kể đủ các thể loại. Sau này, người ta kể lại ở các làng bị tàn phá, họ vừa phát lương thực và yếu phẩm, vừa kể chuyện miễn phí. Từ huyền ảo, sử thi thời Xích Qủy, đến những câu chuyện tình, chuyện cười ra nước mắt. Nhưng nhiều nhất, họ kể cho dân chúng nghe lời sấm truyền về một bậc cứu tinh, một kì nhân ngàn năm khó gặp tên là Gióng, kẻ sinh ra từ một dấu chân thần, sau này sẽ đánh đuổi toàn bộ giặc Chu ra khỏi bờ cõi. Câu chuyện lan truyền nhiều đến mức, một bộ phận lớn dân tình bắt đầu coi nó là lời sấm thật, đua nhau tìm dấu chân thần, tìm bà lão hiếm muộn sẽ sinh ra Gióng. Một bộ phận khác thì coi nó là huyễn hoặc, nhưng lại thấy tấm gương cậu bé Gióng đáng để noi theo, bèn luyện võ hợp quân, nuôi chí đánh giặc. Trong thời loạn lạc, sự xuất hiện của cặp đôi kể chuyện ấy như cơn mưa ngày nắng hạ, hay tia nắng sau cơn giông, đem đến hy vọng phần nào khỏa lấp nỗi buồn thương, nhưng chẳng thể đem lại bình yên thật sự.

Anh em Ca và My, những hậu duệ cuối cùng của tộc Vạn Thư, khi này đã ngấp nghé tam tuần, sống du canh du cư nay đây mai đó, làm đúng theo di nguyện của cha, mãi nghệ kể chuyện rong kiếm ăn qua ngày, hòng đem đến hy vọng cho dân chúng Văn Lang. Làm nghề thuận lợi, dân chúng yêu quý họ, nhưng quân phương bắc và những kẻ tự coi mình là “thức thời” thì hoàn toàn không. Chúng coi họ là cái gai phải nhổ. Như ngay lúc này, hai anh em đang ăn con gà nướng bên đống lửa lúc tối trời, một đám trai làng mặc áo quần phương bắc, hùng hùng hổ hổ kéo tới đòi “răn đe đám chướng tai gai mắt”.

- Rượu mời không uống, muốn uống rượu phạt. – Kẻ dẫn đầu nghiến răng ken két trước Ca đang thản nhiên ăn gà – Ta xem ngươi còn ăn thế nào… Ối! Á! Hự! Huynh đệ, dạy chúng bài học! Dạy… chúng….

Huỵch. Huỵch huỵch huỵch! Bốp bốp bốp…. huỵch huỵch…

Vun vút vài đường, gậy gỗ trong tay hai anh em đánh cho đám thờ bắc răng môi lẫn lộn, hơn 10 kẻ nằm la liệt trong khoảnh sân nhỏ sau chưa đầy 5 phút, bị đánh cho không ngóc dậy được. Nắm đầu kẻ đe dọa anh trai mình đang nằm bẹp dưới đất, giật lên, My nhìn thẳng vào mắt nó, lạnh giọng nói:

- Không muốn ăn cháo cả đời thì đừng bao giờ bén mảng tới gần chúng ta nữa. Đem đám huynh đệ ngươi cút đi. Ta ăn xong cái tỏi gà mà còn thấy mặt bất cứ tên nào, ta đến nhà từng đứa một dạy dỗ đấy. Hiểu chưa? Rồi, cút.

Hắn y như rằng ôm cánh tay suýt trật vai loạng choạng đứng lên, hò hét hô rút quân, chúng chạy hết rồi thì ở lại gập đầu xin lỗi hai người xong, hắn mới chạy đi. Ăn xong con gà, hai anh em mới nói chuyện:

- Lũ oắt con. Không biết trời cao đất dày. – My nói.

- Kệ đi. Cho chúng biết thế nào là tẩm quất kiểu Vạn Thư.

- Phải…. Khục… – nàng chợt nghẹn họng – Không biết bây giờ, chúng ta đánh với cha được chưa nhỉ?

- Muội thì may ra, ta chịu thôi. Cha không nương tay cho ta đâu.

- Ha ha ha…. Giờ nương ở đây, chắc sẽ bênh cha không thiên vị nhỉ?

Tộc Vạn Thư khi xưa vừa là các nhà sáng tác sự tích, vừa là hộ vệ hoàng gia vì năng khiếu với vũ khí. Sau vì thay quyền đổi vị, không vừa mắt vị vua mới, mới bị đẩy đi biên cương phía bắc, được hiểu lóng là tử hình gián tiếp. Với tộc Vạn Thư, võ kỹ và văn kỹ luôn song hành, con trẻ đều được huấn luyện nghiêm khắc cả hai kĩ năng, vậy nên My và Ca đến giờ vẫn còn sống, dù đã gây thù với không ít kẻ. Nhưng cả họ cũng hiểu, chỉ vậy là không đủ để đạt được ước nguyện yên bình.

- …Muội và huynh… có nên ứng tuyển lạc tướng không? Hoặc lạc hầu cũng được?

- Không. – Ca đáp – Giờ làm tôi tớ cho vua không khác gì chui vào miệng hổ. Phương bắc chắc chắn cài nhiều gián điệp trong triều đình. Chúng sẽ nhắm vào ta.

- Cứ thế này cũng đâu được? Ta chẳng làm được gì cả. – My cau mày nhìn đống lửa.

- Phải kiên nhẫn. Ý cha hẳn không sai. Cứ kể thật nhiều về kỳ tích, kỳ tích sẽ xuất hiện. Chính dân chúng mới là kẻ giải thoát được chính mình. Hãy kiên nhẫn, chúng ta phải đi giữa lòng dân, không phải đứng trên cao nhìn xuống họ.

- Muội hiểu rồi. Muội chỉ… lo lắng thôi. Tình hình này, không biết bao giờ chúng sẽ kéo đại quân đến.

- ….Không sao đâu. Ngài Kim Phong nhận lời truyền tin do thám cho chúng ta rồi. Nếu cần, tự chúng ta cũng chiêu quân được. Thôi, nghỉ thôi, mai còn vao làng. Mà mai muội chơi nhạc, ta kể.

My nhíu mày liếc anh trai, vớ hòn sỏi nhỏ ném anh ta, xéo xắc:

- Hóa ra nãy giờ chỉ để giành suất kể chuyện à? Truyện của huynh chán phèo, những lúc thế này ai thèm nghe mấy cuộc tình đũa mốc chòi mâm son của huynh? Mai suất của muội, để muội kể!

- Ngày nào muội cũng kể Thánh Gióng, mòn cả tai, đổi gió đi! Những lúc tăm tối thế này nghe chuyện tình phi thực nó mới hợp lẽ, nó mới lãng mạn. Khô khan như muội bảo sao mãi không có ai rước! – Ca cười đùa, ném trả My hòn sỏi.

- Thế huynh có chắc? – My bắt lấy ném lại, Ca lách người tránh, sỏi bắn vào đống lửa, bụi lửa văng ra như pháo hoa – Nàng nào thèm tin loại õng ẹo nhà huynh.

- Ta không có vì phải kè kè bà chằn như muội đấy!

- Này thì! Ai bà chằn… Này thì bà chằn! Đứng lại! Ối. Ha ha ha, đứng lại!

Hai anh em nhà trưởng làng chơi đùa như đám trẻ đến tối mịt, mới lấy tấm da trâu ra đặt bên đống lửa, hai người hai túi, cuộn quanh người nhắm mắt dưỡng thần.

Cả hai đều hiểu người kia sẽ không ngủ, giấc ngủ của họ luôn nhập nhoạng. Không vì bóng dáng người cha người mẹ đã khuất, ngôi làng cũ đã chìm trong lửa, cũng vì những con người lầm than đói khổ họ bắt gặp hàng ngày trong hành trình kể chuyện rong, vì cảnh tranh đấu liên miên xảy ra khắp nơi, lửa cháy, máu chảy, bóng tối bao trùm, còn họ gần như bó tay đứng nhìn, nhìn thời gian trôi, nhìn những hy vọng giả dối họ đem theo trôi đi cùng nó.

Cuối cùng chỉ còn toàn máu.

Giấc mơ ấy lặp lại quá nhiều lần, đánh thức họ quá nhiều lần. Nên họ không cố ngủ nữa, họ chỉ muốn nhắm mắt. Mọi hôm là vậy, nhưng đêm hôm ấy, họ đã ngủ sâu, và họ đã mơ cùng một cảnh.

Bình Luận (0)

Vui lòng Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận...