Tôi nhoài người ra cửa sổ, nắm lấy tay anh. Tay anh lạnh buốt vì mưa, nhưng lòng bàn tay vẫn thô ráp ấm áp như ngày anh lau tro trên giấy báo trúng tuyển cho tôi.
Tôi nói: “Lương Thủ Sơn, anh chờ em.”
Anh đứng giữa màn mưa, gật đầu thật mạnh. “Anh chờ.”
Xe chạy xa dần. Qua lớp kính nhòe nước, bóng anh càng lúc càng nhỏ. Nhưng anh vẫn đứng đó, như một cái cây cắm rễ rất sâu trong bùn đất quê nhà, dùng thân mình chắn gió cho tôi rời đi.
【Chương 3】
Những ngày đầu ở trường sư phạm, tôi sống không hề dễ dàng. Bạn học cùng lớp đa số là cô gái chưa chồng, tuổi mười bảy mười tám, quần áo tuy không sang trọng nhưng sạch sẽ tươm tất. Còn tôi đã hai mươi mốt tuổi, tóc luôn buộc gọn sau gáy, trong túi có giấy kết hôn, trên tay còn vết bỏng chưa lành. Chỉ cần vài câu hỏi thăm, mọi người đã biết tôi là dâu mới từ nông thôn lên học. Từ đó, ánh mắt nhìn tôi có thêm vài phần tò mò, vài phần thương hại, và không ít chế giễu.
Ký túc xá tám người. Giường của tôi sát cửa, gió lùa mạnh nhất. Một nữ sinh tên Tần Ngọc Lan nhìn chiếc chăn cũ vá hai mảnh của tôi, che miệng cười. “Chị đã lấy chồng rồi còn đi học, chồng chị chịu thật à? Hay chị chuẩn bị học xong thì bỏ anh ta?”
Một người khác lập tức kéo tay cô ta, bảo đừng nói vậy. Nhưng Tần Ngọc Lan không cho là sai, còn cố ý hỏi tiếp: “Tôi chỉ tò mò thôi. Ở quê tôi, phụ nữ lấy chồng rồi còn đi học sẽ bị nhà chồng mắng c//hết. Chồng chị chắc già lắm nhỉ? Có phải không cưới được vợ nên mới cưới chị về, rồi bị chị lừa không?”
Tôi đang trải chăn, động tác hơi dừng lại. Nếu là tôi của trước đây, có lẽ đã đỏ mặt cúi đầu, nhẫn nhịn cho qua. Nhưng sau ngày đứng trong sân nhà họ Lương, sau khi nghe Lương Thủ Sơn nói trước mặt cả thôn rằng “vợ anh trong sạch đàng hoàng”, tôi bỗng không muốn để người khác tùy tiện giẫm lên mình nữa.
Tôi ngẩng đầu nhìn cô ta. “Tôi đi học bằng giấy báo trúng tuyển của mình. Học phí cũng không dùng tiền của cô. Chồng tôi có già hay không, chịu hay không, đều không liên quan đến cô.”
Trong phòng lập tức yên tĩnh. Tần Ngọc Lan không ngờ tôi dám đáp trả, mặt lúc đỏ lúc trắng. Cô ta hừ một tiếng, xoay người nói với người khác: “Đúng là người đã lấy chồng, miệng lưỡi ghê gớm hơn hẳn.”
Tôi không cãi tiếp.
Tôi biết lúc này tranh hơn thua bằng miệng không có ích. Người khác coi thường tôi, vậy tôi càng phải học tốt hơn họ.
Từ ngày ấy, tôi gần như biến mình thành một chiếc dây cung căng chặt. Buổi sáng trời chưa sáng đã dậy đọc bài, buổi trưa ăn cơm xong đến thư viện, buổi tối đèn ký túc xá tắt thì ôm sách ra hành lang học dưới bóng đèn vàng. Giáo trình sư phạm, tâm lý học trẻ em, phương pháp giảng dạy, toán, ngữ văn, chính tả, phát âm chuẩn, tôi đều học đến mức trang sách quăn mép. Nhiều chữ tôi từng biết nhưng không hiểu sâu, nhiều đạo lý giáo dục tôi chưa từng nghe qua, tôi phải học gấp đôi, gấp ba người khác mới theo kịp.
Mỗi tháng Lương Thủ Sơn gửi cho tôi một phong thư. Trong phong thư thường có mười đồng, đôi khi là tám đồng, ít nhất cũng năm đồng. Tiền được gói trong giấy dầu, kẹp giữa hai tờ giấy viết thư. Thư của anh rất ngắn, chữ cũng xiêu vẹo. Ban đầu chỉ có mấy câu: “Nhà đã lợp mái. Gà bán rồi. Anh khỏe. Em học tốt.” Sau đó, chữ của anh dần nhiều hơn. Anh viết: “Hôm nay lò gạch trả tiền. Anh mua được ba cân bột mì, để dành Tết em về làm bánh.” Anh viết: “Mẹ lại mắng, anh không nghe. Em cũng đừng nghĩ.” Anh viết: “Trong thôn có người nói em không về nữa. Anh không tin.”
Mỗi lần đọc đến câu cuối, tôi đều phải che miệng mới không khóc thành tiếng trong ký túc xá.
Tôi cũng viết thư cho anh. Tôi kể trường có cây ngô đồng rất lớn, mùa thu lá rụng vàng cả sân. Tôi kể thầy dạy tâm lý nói trẻ con không phải cái bình rỗng để người lớn nhồi chữ, mà là hạt giống cần đất tốt để nảy mầm. Tôi kể thành phố có cửa hàng sách hai tầng, bên trong nhiều sách đến mức tôi đứng nhìn mà quên cả về ăn cơm. Tôi còn dạy anh viết chữ. Mỗi phong thư tôi đều viết thêm vài chữ lớn ở cuối: “núi”, “sông”, “nhà”, “chờ”, “về”. Tôi viết từng nét, đánh dấu thứ tự, bảo anh lúc rảnh thì luyện theo.
Sau này tôi mới biết, Lương Thủ Sơn thật sự luyện. Anh nhặt những mảnh gạch vỡ ở lò, dùng than củi viết lên nền đất. Người khác thấy thì cười anh: “Thủ Sơn, vợ lên thành phố rồi, chú còn học chữ làm gì? Học để đọc thư từ biệt à?” Anh không cãi. Chỉ đợi họ cười xong, lại cúi đầu viết tiếp. Nét chữ của anh từ ban đầu run rẩy méo mó, dần dần có hình dáng. Có lần anh viết trong thư: “Anh viết được chữ ‘về’ rồi. Chữ này tốt.”
Chaporia
Bình Luận (0)