Tôi cầm lá thư ấy ngồi trong thư viện rất lâu. Bên ngoài trời đổ tuyết đầu mùa. Tôi đặt ngón tay lên chữ “về” do anh viết, cảm thấy nó nặng hơn mọi lời hứa hẹn trên đời.
Nhưng cuộc sống không vì tình nghĩa của một người mà trở nên dễ dàng. Năm thứ nhất sắp kết thúc, tôi nhận được tin cha tôi bệnh nặng. Mẹ gửi thư đến trường, chữ viết nhờ hàng xóm viết hộ, chỉ nói cha tôi ho nhiều, thuốc trong nhà đã cạn. Tôi cầm thư, lòng nóng như lửa đốt. Tiền sinh hoạt tháng ấy Lương Thủ Sơn vừa gửi tới, tôi còn chưa kịp dùng. Tôi lập tức gửi một nửa về nhà mẹ đẻ, một nửa giữ lại mua vé xe về thăm cha.
Không ngờ chuyện này bị Tần Ngọc Lan biết. Cô ta vốn vẫn không ưa tôi vì lần đầu bị tôi đáp trả, bèn lan khắp lớp rằng tôi dùng tiền chồng nuôi nhà mẹ đẻ. “Tôi đã nói rồi mà. Nhà chồng bỏ tiền cho cô ta đi học, cô ta quay đầu gửi về nhà mẹ. Người như vậy còn ra vẻ thanh cao.”
Tin đồn trong trường lan rất nhanh. Có người nhìn tôi bằng ánh mắt phức tạp, có người tránh ngồi cùng bàn ăn, như thể tôi thật sự là loại phụ nữ tham lam xấu xa. Lúc ấy tôi mới hiểu, miệng đời ở thành phố chưa chắc đã sạch hơn miệng đời ở thôn quê. Chỉ cần họ muốn coi thường bạn, dù bạn thở thôi cũng có thể thành tội.
Tôi không giải thích với từng người. Trong tiết thực hành giảng dạy cuối kỳ, tôi chuẩn bị bài mẫu suốt ba đêm. Khi lên bục giảng, tôi không chọn đề dễ, mà chọn một bài tập đọc về người mẹ cõng con qua núi đi học. Tôi đứng trước lớp, kể về trẻ con nông thôn phải đi bộ mười mấy dặm đường mới tới trường, kể về những cô bé chưa kịp biết chữ đã bị gọi về nhà trông em, kể về người cha ốm nằm trên giường vẫn hỏi con gái rằng trường trên thành phố có rộng không.
Cuối giờ, thầy chủ nhiệm im lặng rất lâu rồi cho tôi điểm cao nhất lớp. Thầy nói: “Hứa Trĩ Hòa, em biết nỗi khổ của người dưới đất, nên bài giảng của em có hơi người. Sau này làm giáo viên, đừng đánh mất điều đó.”
Tôi cúi đầu cảm ơn. Khi bước xuống bục, cả lớp không ai nói gì. Tần Ngọc Lan nhìn tôi, sắc mặt khó coi. Từ hôm ấy, không còn ai công khai nhắc chuyện tôi gửi tiền về nhà mẹ nữa. Bởi vì điểm cuối kỳ của tôi đứng thứ nhất toàn khóa, học bổng năm ấy cũng rơi vào tay tôi.
Ngày nhận học bổng, tôi gửi một nửa về cho cha, một nửa gửi cho Lương Thủ Sơn. Trong thư tôi viết: “Từ tháng sau anh đừng gửi nhiều tiền nữa. Em có học bổng, còn có thể chép tài liệu thuê cho thư viện. Em nuôi được mình.”
Nửa tháng sau, thư anh đến. Bên trong vẫn kẹp mười đồng. Chữ của anh đã ngay ngắn hơn trước rất nhiều: “Tiền của em là do em giỏi kiếm được. Tiền của anh là anh muốn gửi. Không giống nhau.”
Tôi đọc đi đọc lại câu ấy, cuối cùng úp mặt xuống bàn khóc. Bạn cùng phòng tưởng tôi bị ai bắt nạt, vội chạy tới hỏi. Tôi chỉ lắc đầu. Tôi không bị bắt nạt. Tôi chỉ đột nhiên nhận ra, trên đời này thật sự có một người vụng về đến mức không biết nói lời yêu thương, nhưng lại dùng từng đồng tiền mồ hôi máu của mình để nói với tôi rằng: em xứng đáng.
Năm thứ hai, tôi được chọn làm đại diện sinh viên xuống các làng quanh huyện dạy xóa mù chữ trong kỳ nghỉ hè. Khi danh sách công bố, cả lớp xôn xao. Tần Ngọc Lan vốn nghĩ suất ấy chắc chắn là của mình, vì cha cô ta làm cán bộ ở công xã. Không ngờ thầy chủ nhiệm chọn tôi.
Cô ta chặn tôi ở hành lang, cười lạnh hỏi: “Hứa Trĩ Hòa, chị giỏi thật đấy. Trên lớp lấy lòng thầy cô, dưới quê giả vờ hiểu nông dân. Chị không thấy mệt à?”
Tôi ôm sách nhìn cô ta. “Tôi vốn là nông dân, không cần giả vờ.”
Cô ta nghẹn lời. Tôi tiếp tục nói: “Còn cô nếu không phục, lần thi sau đứng trước tôi rồi hãy nói.”
Mấy nữ sinh đi ngang qua nghe thấy, có người bật cười. Mặt Tần Ngọc Lan đỏ bừng. Từ đó, cô ta càng ghét tôi. Nhưng ghét cũng vô dụng. Thành tích của tôi vẫn đứng đầu. Bài giảng của tôi vẫn được thầy cô đem ra làm mẫu. Những đứa trẻ ở lớp xóa mù chữ cũng thích nghe tôi giảng hơn, vì tôi biết chúng không chỉ thiếu sách bút, mà còn thiếu một người nói với chúng rằng học không phải chuyện xa vời.
Kỳ nghỉ đông năm thứ hai, tôi về thôn lần đầu sau khi nhập học. Xe khách vừa dừng ở đầu thôn, tôi đã nhìn thấy gian nhà kho phía tây đổi khác. Mái tranh được lợp lại kín kẽ, cửa gỗ được thay bằng mấy tấm ván chắc chắn hơn, trước sân còn có một luống rau nhỏ. Lương Thủ Sơn đang chẻ củi ngoài cửa. Anh gầy đi rất nhiều, vai áo vá thêm hai mảnh, nhưng khi ngẩng đầu nhìn thấy tôi, chiếc rìu trong tay anh rơi “cạch” xuống đất.
Chaporia
Bình Luận (0)