Tôi vừa định nhìn kỹ hơn, sau lưng bỗng truyền đến tiếng bà nội rít lên: “Đừng nhìn ảnh đó!”

Nhưng đã muộn.

Người phụ nữ trong ảnh từ từ ngẩng đầu.

Gương mặt vốn bị cào nát trong ảnh bỗng hiện ra một nụ cười.

Sau đó, tôi nghe thấy một giọng phụ nữ rất khẽ vang lên bên tai.

“Con gái của mẹ, cuối cùng con cũng về rồi.”

3

Tôi đứng trước cửa phòng thờ, lần đầu tiên thật sự lạnh sống lưng.

Không phải vì những âm linh trẻ con trong phòng.

Cũng không phải vì cái miệng không mặt ngồi trên ghế thứ sáu.

Mà là vì câu nói kia.

Con gái của mẹ.

Bốn chữ ấy giống một cây kim đã gỉ, đâm thẳng vào khe hở sâu nhất trong ký ức tôi.

Từ nhỏ, tôi đã nghe vô số người nói mình không giống mẹ.

Không giống Tống phu nhân.

Không giống cả bố.

Hàng xóm hay đùa: “Dao Dao càng lớn càng đẹp, mắt mũi chẳng giống ai trong nhà, chắc nhặt được ở đâu về đấy.”

Mỗi lần như vậy, mẹ tôi đều sa sầm mặt, kéo tôi vào nhà, sau đó cả ngày không nói chuyện với tôi.

Bà nội thì càng ghét ai nhắc đến gương mặt tôi.

Có lần tôi mười hai tuổi, đi học về được cô giáo khen mắt đẹp, giống kiểu mắt hoa đào trong tranh cổ. Tôi vui vẻ kể với mẹ, còn chưa nói xong đã bị bà nội cầm kéo cắt phăng tóc mái của tôi, ép tóc che xuống gần kín mắt.

Bà nói: “Con gái không được để mắt câu hồn. Mày muốn hại cả nhà à?”

Tôi từng nghĩ đó là mê tín.

Bây giờ nhìn người phụ nữ áo đỏ trong ảnh, tôi bỗng hiểu.

Có lẽ họ không sợ mắt tôi câu hồn.

Họ sợ tôi nhìn thấy hồn thật của mình.

Phía sau, mẹ tôi hét lên thất thanh: “Không phải! Không phải đâu Dao Dao! Con đừng nghe nó! Nó là quỷ, nó đang lừa con!”

Tôi không quay đầu.

Người phụ nữ trong ảnh vẫn mỉm cười.

Nụ cười của bà rất nhợt nhạt, nhưng không đáng sợ. Thậm chí trong đôi mắt mờ đục kia còn có một loại dịu dàng xa lạ khiến ngực tôi thắt lại.

Tôi hỏi: “Bà là ai?”

Trong ảnh, người phụ nữ cúi đầu nhìn bụng mình.

Bụng bà rất lớn.

Lớn đến mức chiếc áo đỏ căng ra, hai tay đặt trên bụng, tư thế giống như đang bảo vệ thứ bên trong.

Giọng nói kia lại vang lên.

“Ta tên là Ôn Nghi. Hai mươi hai năm trước, ta chết trong căn nhà này.”

Phòng khách phía sau im phăng phắc.

Sau đó bà nội đột nhiên lắc chuông điên cuồng.

Leng keng leng keng leng keng.

Tiếng chuông gấp gáp đâm vào tai.

Người phụ nữ trong ảnh nhíu mày, hình bóng trở nên mờ đi. Những bàn tay nhỏ trong phòng thờ đồng loạt thò ra, cào lên nền gạch, miệng phát ra tiếng khóc hỗn loạn.

Tôi lập tức lấy đồng xu cổ ném về phía bà nội.

Đồng xu đánh trúng chuông đồng.

Keng một tiếng.

Chuông rơi xuống đất, lăn vào gầm bàn.

Bà nội giận dữ gào: “Tống Dao, mày muốn cả nhà chết thật sao?”

Tôi quay đầu nhìn bà.

“Người chết trong căn nhà này đâu chỉ có một.”

Bà nội cứng họng.

Bố tôi lao tới muốn nhặt chuông, nhưng Tống Dư đột nhiên xông lên ôm chặt ông.

“Ba, đừng nhặt!”

Bố tức giận vùng vẫy.

“Mày buông ra! Thằng ngu này, mày biết gì mà cản tao?”

Tống Dư đỏ mắt, cắn răng không buông.

“Con không biết gì hết nên mới bị mọi người lừa hai mươi năm! Hôm nay con muốn nghe chị nói rõ. Con muốn biết nhà mình rốt cuộc là cái ổ gì!”

Bố giơ tay định đánh nó.

Tôi lạnh lùng nói: “Ông đánh thử xem. Sợi chỉ trên tay nó chỉ còn hai nút, ông muốn nó chết ngay tối nay thì cứ đánh.”

Bố khựng lại.

Tống Dư nhân cơ hội giật chuông đồng dưới đất, ném mạnh về phía tôi.

Tôi bắt lấy, nhìn nó một cái.

Nó thở hổn hển, mặt trắng bệch nhưng ánh mắt rất kiên quyết.

“Chị, chị làm đi.”

Mẹ khóc đến gần như sụp xuống.

“Dư Dư, sao con cũng phản mẹ? Mẹ làm tất cả vì con mà…”

Tống Dư nhìn bà, giọng run nhưng rõ ràng.

“Mẹ đừng nói vì con nữa. Con thấy ghê tởm.”

Câu này vừa ra, mặt mẹ tôi trắng bệch hơn cả lúc thấy quỷ.

Có lẽ đối với bà, bị đứa con trai yêu quý nhất nói ghê tởm còn đau hơn bị âm linh cắn ngược.

Tôi không quan tâm đến bà nữa.

Tôi cầm chuông đồng, nhìn kỹ.

Chuông chỉ lớn bằng nắm tay, bên ngoài khắc hoa văn âm triện, bên trong dính một lớp cặn đen. Tôi đưa lên mũi ngửi.

Mùi sữa chua thiu.

Mùi tro giấy.

Mùi máu đầu ngón tay.

Đây không phải chuông trấn âm.

Là chuông gọi ăn.

Mỗi lần lắc, những đứa trẻ trong phòng thờ sẽ tưởng có cơm, có hương, có người cho chúng ăn, nên tạm thời nghe lệnh.

Nhưng gọi quá nhiều mà không cho ăn đủ, chúng sẽ càng oán.

Tôi ném chuông vào túi vải, quay lại nhìn tấm ảnh.

“Ôn Nghi, bà nói tiếp.”

Mẹ tôi gào lên: “Không được gọi tên nó!”

Tôi bình thản đáp: “Tên là neo hồn. Một người chết nếu không có ai gọi tên, mới thật sự đáng thương.”

Người phụ nữ trong ảnh nhìn tôi.

Khóe mắt bà như có nước mắt, nhưng ảnh cũ không chảy được lệ.

Bà nói: “Năm đó ta là vợ chưa cưới của bố con.”

Cả người tôi khựng lại.

Phòng khách lại vang lên tiếng Tống Dư hít sâu.

Bố tôi lập tức quát: “Nói bậy! Con quỷ này nói bậy! Dao Dao, mày đừng tin nó!”

Tôi quay sang nhìn bố.

Ông né tránh ánh mắt tôi.

Vậy là thật.

Ôn Nghi tiếp tục nói: “Ta và Tống Kiến Thành đã đính hôn. Khi ấy ông ta chưa có gì, chỉ là một nhân viên nhỏ trong xưởng máy. Nhà ta có chút tiền, bố mẹ ta thương ta, giúp ông ta mở công ty. Sau đó ta mang thai.”

Giọng bà rất nhẹ.

Nhưng mỗi chữ rơi xuống, sắc mặt bố tôi lại xám thêm một phần.

“Tống Kiến Thành nói muốn đợi công ty ổn định rồi cưới. Ta tin ông ta. Nhưng sau đó, mẹ ông ta tìm được một thầy tà. Thầy đó nói mệnh ta vượng phu, đứa bé trong bụng ta là thai tài, nếu sinh ra sẽ giúp nhà họ Tống phát đạt. Nhưng nếu muốn tài vận lên nhanh hơn, có một cách khác.”

Tôi nhìn bà nội.

Bà nội đứng bất động, mí mắt giật liên tục.

Ôn Nghi nói: “Lấy mẹ giữ oán, lấy con luyện tài.”

Bình Luận (0)

Vui lòng Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận...